Kỹ năng của luật sư: tư vấn, soạn thảo văn bản liên quan đến thi hành án phạt tù

"Duy chỉ có phục tùng pháp luật mà mọi người đã đặt ra vì mình mới là tự do".

Jean-Jacques Rousseau, 1712 - 1778, nhà triết học thuộc trào lưu Khai sáng, người Pháp 

Kỹ năng của luật sư: tư vấn, soạn thảo văn bản liên quan đến thi hành án phạt tù

Trong hệ thống hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự, hình phạt tù là hình phạt phổ biến nhất.

Pháp luật quy định nhiều chính sách thể hiện tính nhân đạo trong quá trình thi hành án phạt tù như giảm thời gian chấp hành bản án, hoãn, miễn chấp hành hình phạt, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Một phạm nhân nếu được tư vấn pháp luật đầy đủ, có thể biết và từ đó phấn đấu, làm các thủ tục để được hưởng các chính sách khoan hồng của pháp luật trong quá trình thi hành án hình sự.

Liên hệ

I- KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ LIÊN QUAN ĐẾN THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án. Thời hạn ra quyết định thi hành án là 07 ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm. Đối với trường hợp ủy thác thi hành án thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành án của Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm, Chánh án Tòa án được ủy thác phải ra quyết định thi hành án. Quyết định thi hành án được gửi cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan.

Trong trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì trong quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, người bị kết án phải có mặt tại cơ quan thi hành án Công an cấp huyện để thi hành án. Căn cứ vào quyết định thi hành án, luật sư cần tư vấn cho người bị kết án phải chấp hành đúng quy định, thu xếp mọi công việc gia đình để đảm bảo trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, người chấp hành án phải có mặt tại trụ sở cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu được chỉ định trong quyết định thi hành án. Nếu chậm trễ trong việc tự nguyện đi thi hành án để bị áp giải sẽ bất lợi cho người bị kết án trong quá trình đề nghị xem xét miễn, giảm hình phạt sau này.

Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án Công an cấp huyện phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án và báo cáo cơ quan thi hành án Công an cấp tỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an.

Trong trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án, hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án.

Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam cấp quân khu thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp hành án phạt tù để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng.

Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tạm giam tại trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng thì trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án, hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách và báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng ra quyết định đưa người bị kết án đi chấp hành án.

Nắm được các quy định của pháp luật về thi hành án, thẩm quyền của các cơ quan liên quan, trong trường hợp người bị kết án hoặc gia đình có nguyện vọng, luật sư có thể tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho người bị kết án, gia đình họ làm đơn, chuẩn bị các tài liệu cần thiết gửi đến cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn luật định, để đạt nguyện vọng. Nếu xét thấy nguyện vọng của người bị kết án là chính đáng, có căn cứ pháp lý, hồ sơ đầy đủ, để tạo điều kiện cho người thi hành án, các cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét, chấp nhận.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư bào chữa trong vụ án hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

II- KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ: ĐỀ NGHỊ HOÃN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ

Người bị kết án sẽ được hoãn thi hành án phạt tù trong một khoảng thời gian nhất định khi có những điều kiện nhất định. Về nguyên tắc, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án phạt tù sẽ phải chấp hành hình phạt theo bản án đã tuyên. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, người bị kết án chưa đi thi hành án có nguyện vọng xin được hoãn chấp hành hình phạt tù. Khoản 1 Điều 67 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về điều kiện được hoãn chấp hành hình phạt tù. Theo quy định, người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:

- Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;

- Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;

- Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

- Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.

Căn cứ vào các quy định của pháp luật, khi người bị kết án có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 67 Bộ luật hình sự năm 2015, có nguyện vọng xin được hoãn chấp hành án phạt tù, luật sư có thể tư vấn, hỗ trợ người bị kết án làm các thủ tục xin hoãn chấp hành hình phạt tù. Luật sư soạn thảo đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù sau đó chuyển cho người bị kết án ký. Đồng thời, luật sư tư vấn, hỗ trợ người bị kết án chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ chứng minh họ có đủ điều kiện được hoãn sau đó gửi hồ sơ đến Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án để được xem xét, giải quyết.

Về thủ tục hoãn chấp hành hình phạt tù, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định:

- Đối với người bị kết án phạt tù đang được tại ngoại, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án có thể tự mình hoặc theo đơn đề nghị của người bị kết án, văn bản đề nghị của Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án làm việc hoặc cư trú ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù. Đơn đề nghị hoặc văn bản đề nghị phải được gửi cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án kèm theo các giấy tờ có liên quan.

- Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn hoặc văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải xem xét, quyết định. Trường hợp không đồng ý hoãn chấp hành án phạt tù thi Chánh án Tòa án phải có văn bản trả lời người có đơn đề nghị hoặc cơ quan có văn bản đề nghị và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, trong đó nêu rõ lý do không chấp nhận.

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây: Người được hoãn chấp hành án và người đại diện trong trường hợp người được hoãn chấp hành án là người dưới 18 tuổi; Viện kiểm sát cùng cấp; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hoãn thi hành án cư trú, làm việc; Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở; Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được hoãn chấp hành án là người nước ngoài.

- Nếu được Tòa án có thẩm quyền quyết định cho hoãn chấp hành hình phạt tù thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ngừng việc làm thủ tục đưa người bị kết án đi chấp hành án và ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội có nhiệm vụ quản lý người được hoãn chấp hành án.

- Người được hoãn chấp hành án không được đi khỏi nơi cư trú, nếu không được sự đồng ý của ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội đang quản lý người đó.

Trong thời gian được hoãn chấp hành án mà người bị kết án có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có căn cứ cho rằng người đó bỏ trốn thì cơ quan chức năng có thể đề nghị Chánh án Tòa án đã ra quyết định hủy bỏ quyết định đó. Ngay sau khi có quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án, cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện áp giải người chấp hành án để đi thi hành án. Vì vậy, luật sư cần tư vấn cho người được hoãn chấp hành hình phạt tù nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật, chịu sự giám sát của chính quyền địa phương, tránh trường hợp bị hủy quyết định hoãn chấp hành án.

Xem thêm: Dịch vụ pháp chế doanh nghiệp thuê ngoài (luật sư nội bộ) của Công ty Luật TNHH Everest

III- KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ: ĐỀ NGHỊ TẠM ĐÌNH CHỈ CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ

Điều 68 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, cụ thể: Người đang chấp hành hình phạt tù mà thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 67 Bộ luật hình sự, thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Thời gian tạm đình chỉ không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù. Việc hoãn chấp hành hình phạt tù chỉ được áp dụng đối với người bị kết án khi họ chưa bị đưa đi thi hành án. Trong trường hợp người bị kết án phạt tù đang chấp hành án mà phát sinh căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 67 Bộ luật hình sự, họ có thể xin được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Để tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho khách hàng, luật sư cần nghiên cứu các quy định của pháp luật về thẩm quyền, điều kiện, thủ tục đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù để tư vấn cho khách hàng, giúp họ làm đơn, chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ liên quan. Theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019, cơ quan có thẩm quyền đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù gồm có:

- Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng;

- Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;

- Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu.

Các cơ quan có thẩm quyền trên, nơi phạm nhân đang chấp hành án, có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và chuyển cho Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phải xem xét, quyết định. Ngay sau khi có quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan liên quan theo quy định.

Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi trực tiếp quản lý người được tạm đình chỉ tổ chức giao người được tạm đình chỉ cho ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó; thân nhân của người được tạm đình chỉ có nghĩa vụ tiếp nhận người được tạm đình chỉ; ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tạm đình chỉ có trách nhiệm theo dõi, giám sát người được tạm đình chỉ, xem xét, giải quyết cho người đó được đi khỏi nơi cư trú, làm việc.

Khi người được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù về địa phương, luật sư cần tư vấn cho họ biết rõ các quy định của pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ để họ biết và chấp hành. Theo quy định của pháp luật, trong thời gian được tạm đình chỉ, nếu người được tạm đình chỉ có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có căn cứ cho rằng người đó có thể bỏ trốn thì ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được tạm đình chỉ cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tạm đình chỉ thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người tạm đình chỉ cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị quân đội được giao quản lý để các cơ quan này thông báo cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ phải xem xét, quyết định chấm dứt việc tạm đình chỉ và gửi quyết định đó cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quán khu để thực hiện áp giải thi hành án.

Luật sư cần tư vấn cho người được tạm đình chỉ thi hành án theo dõi và thực hiện đúng thời hạn được tạm đình chỉ để tự nguyện đi thi hành bản án khi hết thời hạn tạm đình chỉ. Theo quy định pháp luật, chậm nhất là 07 ngày trước khi hết thời hạn tạm đình chỉ, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được tạm đình chỉ về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị được giao quản lý người đó có trách nhiệm thông báo cho người được tạm đình chỉ biết và yêu cầu người đó có mặt tại nơi chấp hành án đúng thời gian quy định. Quá thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù mà người được tạm đình chỉ không có mặt tại trại giam, trại tạm giam hoặc cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để tiếp tục chấp hành án mà không có lý do chính đáng, thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu quyết định áp giải thi hành án.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

IV- KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ: ĐỀ NGHỊ GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ

Khi được mời tham gia tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho những người bị kết án, nếu họ không kêu oan và chấp nhận bản án thì luật sư cần tư vấn, chuẩn bị tinh thần cho họ trước khi bước vào giai đoạn thi hành án hình sự. Pháp luật liên quan đến việc thi hành án hình sự có những quy định về việc giảm thời gian chấp hành hình phạt đối với những người đang thi hành án phạt tù. Luật sư cần nghiên cứu, nắm được các quy định liên quan để tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho người đang chấp hành hình phạt tù giúp họ biết các điều kiện để được giảm án, từ đó cố gắng cải tạo tốt để được hưởng chính sách nhân đạo của pháp luật.

Khi họ có đủ điều kiện được giảm án, luật sư có thể hỗ trợ họ và gia đình viết đơn đề nghị, chuẩn bị các tài liệu cần thiết để gửi tới cơ quan có thẩm quyền. Đơn và các tài liệu cần thể hiện người bị kết án đã đáp ứng các điều kiện để được xét giảm thời gian chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều 63 Bộ luật hình sự năm 2015. Cụ thể là người bị kết án đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, ít nhất bằng thời gian tối thiểu để xét giảm lần đầu, đã có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự.

Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân. Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên. Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm.

Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải đảm bảo thời gian thực tế chấp hành là 25 năm. Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình từ đủ 75 tuổi trở lên, người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và đã hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.

Trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù lại tiếp tục phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt, đối với các trường hợp này, việc xét giảm thời gian chấp hành hình phạt tù sẽ có quy định riêng, bất lợi hơn cho họ, luật sư cần tư vấn cho người bị kết án để họ biết và tránh phạm tội mới trong thời gian chấp hành hình phạt tù. Cụ thể là:

- Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được một phần hai mức hình phạt chung;

- Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải đảm bảo thời gian thực tế chấp hành là 25 năm.

Người bị kết án có thể được xét giảm hình phạt sớm hơn và cao hơn mức xét giảm đã quy định. Điều 64 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, cụ thể: Người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Tòa án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định tại Điều 63 Bộ luật hình sự.

Về thủ tục giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Điều 38 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định như sau:

- Các cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù gồm:

(i) Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng;

(ii) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;

(iii) Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu.

- Cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có trách nhiệm lập hồ sơ và chuyển cho TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án xem xét, quyết định, hồ sơ đề nghị gồm có:

(i) Bản sao bản án; trường hợp xét giảm án từ lần hai thì bản sao bản được thay bằng bản sao quyết định thi hành án;

(ii) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù;

(iii) Kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù theo quý, 06 tháng, 01 năm;

(iv) Quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc phạm nhân lập công;

(v) Kết luận của bệnh viện cấp tỉnh, hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh tật đối với trường hợp phạm nhân bị bệnh hiểm nghèo hoặc tài liệu thể hiện phạm nhân là người quá già yếu;

(vi) Bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với trường hợp đã được giảm;

(vii) Tài liệu chứng minh kết quả bồi thường nghĩa vụ dân sự của người được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, cơ quan đề nghị giảm thời hạn chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi Tòa án ra quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có trụ sở, Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được giảm thời hạn chấp hành án là người nước ngoài.

Việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được thực hiện mỗi năm 03 đợt. Người chấp hành án mỗi năm chỉ được xét giảm thời hạn chấp hành án 01 lần. Trường hợp sau khi được giảm thời hạn chấp hành án mà có lý do đặc biệt đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì có thể được xét giảm tiếp nhưng không quá 02 lần trong 01 năm.

Xem thêm: Về Công ty Luật TNHH Everest

V- KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ: ĐỀ NGHỊ MIỄN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ

Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;

- Đã chấp hành án phạt tù được một thời gian do Chủ tịch nước quyết định nhưng ít nhất là một phần ba thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 14 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù.

Người bị kết án về tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội; tội phá hoại chính sách đoàn kết; tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; người bị kết án từ 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của Bộ luật hình sự do cố ý hoặc người bị kết án từ 07 năm tù trở lên về tội cướp tài sản; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội sản xuất trái phép chất ma túy; tội mua bán trái phép chất ma túy; tội chiếm đoạt chất ma túy của Bộ luật hình sự đã chấp hành án phạt tù được một thời gian do Chủ tịch nước quyết định, nhưng ít nhất là một phần hai thời gian đối với trường hợp bị kết án phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không dược tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 17 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù;

- Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí;

- Đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng hoặc tội phạm khác do Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá;

- Đã thi hành xong hoặc thi hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với người bị kết án phạt tù không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 11 Luật Đặc xá năm 2018.

Trường hợp phải thi hành nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với tài sản không thuộc sở hữu của Nhà nước thì phải được người được thi hành án đồng ý hoãn thi hành án hoặc không yêu cầu thi hành án đối với tài sản này;

- Khi được đặc xá không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự;

- Không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 12 Luật Đặc xá năm 2018.

Người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong thời gian chấp hành án phạt tù trước khi có quyết định tạm đình chỉ;

- Đã có thời gian chấp hành án phạt tù quy định tại điểm b khoản 1 Điều 11 Luật Đặc xá năm 2018;

- Các điều kiện quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 11 Luật Đặc xá năm 2018;

- Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.

Người có đủ các điều kiện quy định tại các điểm a, c, d, đ, e và g khoản 1, các điểm a, c và d khoản 2 Điều 11 Luật Đặc xá năm 2018 được Chủ tịch nước quyết định thời gian đã chấp hành án phạt tù ngắn hơn so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều 11 Luật Đặc xá năm 2018 khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;

- Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người được tặng thưởng danh hiệu Dũng sĩ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lao động; người được tặng thưởng một trong các loại Huân chương, Huy chương Kháng chiến; cha, mẹ, vợ, chổng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn nhỏ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; cha, mẹ, vợ, chồng, con của người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”;

- Người đang mắc bệnh hiểm nghèo, người đang ốm đau thường xuyên mà không tự phục vụ bản thân;

- Khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 11 Luật Đặc xá năm 2018;

- Người từ đủ 70 tuổi trở lên;

- Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình;

- Phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi đang ở với mẹ trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ;

- Người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của pháp luật về người khuyết tật; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật về dân sự.

Khi có đợt đặc xá, căn cứ các thành tích, ttiêu chuẩn người chấp hành án đã đạt được, nếu đủ điều kiện, luật sư sẽ giúp họ và gia đình làm đơn đề nghị, thu thập, chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu cần thiết gửi đến cơ quan có thẩm quyền đề nghị xem xét, cho người chấp hành án được đặc xá theo quy định pháp luật.

Về hậu quả pháp lý, người được đại xá được trả tự do ngay, được phục hồi toàn bộ quyền công dân và coi như chưa phạm tội.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Sau khi bị kết án đã lập công;

- Mắc bệnh hiểm nghèo;

- Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Xem thêm: Thù lao luật sư và Chi phí pháp lý tại Công ty Luật TNHH Everest

VI- KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ: ĐỀ NGHỊ THA TÙ TRƯỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN

Tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp được Tòa án áp dụng đối với người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật hình sự mà xét thấy không cần buộc họ phải tiếp tục chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ. Tha tù trước thời hạn có điều kiện là một chế định mới thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật trong quá trình thi hành án hình sự, được quy định tại Điều 66 Bộ luật hình sự năm 2015. Để tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho khách hàng liên quan đến việc xin tha tù trước thời hạn có điều kiện, luật sư cần nắm chắc các quy định pháp luật liên quan đến chế định này.

Theo quy định của pháp luật, người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau:

- Phạm tội lần đầu;

- Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;

- Có nơi cư trú rõ ràng;

- Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;

- Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

- Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;

- Không thuộc trường hợp bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội khủng bố, người bị kết án từ 10 năm tù trở lên đối với tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, 07 năm tù trở lên đối với các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và sản xuất trái phép, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy; người bị kết án tử hình được giảm án hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật hình sự năm 2015.

Khi nhận thấy người bị kết án đang chấp hành án phạt tù mà mình nhận bảo vệ có các điều kiện theo quy định của pháp luật, luật sư có thể tư vấn, giúp họ hoặc gia đình làm đơn gửi tới trại giam nơi người bị kết án đang chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền đề nghị xem xét, lập hồ sơ đề nghị với Tòa án có thẩm quyền quyết định tha tù trước thời hạn. Đơn phải nêu rõ người bị kết án đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định và cam kết không vi phạm pháp luật, các nghĩa vụ phải chấp hành khi được tha tù trước thời hạn.

Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện được quy định như sau: Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện và chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù.

- Hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện gồm:

(i) Đơn xin tha tù trước thời hạn có điều kiện của phạm nhân kèm theo cam kết không vi phạm pháp luật, các nghĩa vụ phải chấp hành khi được tha tù trước thời hạn

(ii) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quyết định thi hành án;

(iii) Bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng trở lên;

(iv) Văn bản, tài liệu thể hiện việc chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiến, án phí, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

(v) Tài liệu để xác định thời gian thực tế đã chấp hành án phạt tù;

(vi) Trường hợp phạm nhân là người có công với cách mạng hoặc thân nhân của người có công với cách mạng, người từ đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đang chấp hành án phạt tù dưới 18 tuổi thì phải có tài liệu chứng minh;

(vii) Văn bản đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù. Với người bị kết án đã được Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, trở về địa phương, luật sư cần tư vấn, khuyên bảo họ nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ kèm theo quyết định tha tù trước thời hạn. Bởi vì theo quy định, trong thời gian thử thách, theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có thể hủy bỏ quyết định này đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành, nếu họ có ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên.

Luật sư cần giải thích cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện các trường hợp bị coi là cố ý vi phạm nghĩa vụ để họ có ý thức chấp hành tốt, tránh vi phạm.

Xem thêm: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Luật sư Phạm Ngọc Minh - Giám đốc điều hành của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp (nguồn tham khảo: Giáo trình Kỹ năng của Luật sư khi tham gia giải quyết vụ án hình sự - Học viện Tư pháp và một số nguồn khác). 

Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn

Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!

Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí

Hoặc
Đăng ký tư vấn
Công ty luật TNHH Everest - Công ty Luật uy tín tại Việt Nam

Everest
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu

Top 20 thương hiệu vàng Việt Nam

Tự hào là đối tác thương hiệu lớn
Video
Everest - Hành trình vượt khó cùng đối tác
Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp
Gặp các chuyên gia Đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm
Để làm được những điều đó, mỗi một luật sư thành viên thuộc Hãng luật của chúng tôi đều phải rèn luyện không ngừng để có kiến thức Uyên thâm về chuyên môn, luôn đặt Tình yêu và Trách nhiệm vào công việc
5 5 (1 đánh giá)
0 bình luận, đánh giá về Kỹ năng của luật sư: tư vấn, soạn thảo văn bản liên quan đến thi hành án phạt tù

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận sản phẩm
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.39262 sec| 1260.305 kb