Trang chủ » Xác định những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh

Xác định những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh

Khi thu thập chứng cứ phải xuất phát từ quyền lợi của khách hàng. Mục đích thu thập chứng cứ nhằm chứng minh các tình tiết, sự kiện để có cơ sở áp dụng các căn cứ pháp lý tương ứng với thời điểm xác lập quan hệ mà pháp luật nội dung điều chỉnh đề xuất Tòa án ban hành phán quyết hợp tình, hợp lý, đúng với các quy định của pháp luật. Về cơ bản, tất cả các tình tiết, sự kiện đều cần phải chứng minh, trừ những tình tiết, sự kiện sau thì không phải chứng minh.

kỹ năng viết pháp lý
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Xác định những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh

Về cơ bản, tất cả các tình tiết, sự kiện đều cần phải chứng minh, trừ những tình tiết, sự kiện sau thì không phải chứng minh như sau:

– Những tình tiết, sự kiện mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận. Mục đích hướng tới của hoạt động chứng minh là nhằm làm rõ tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ, việc dân sự để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự. Những tình tiết, sự kiện này không chứng minh thì mọi người cũng đã biết rõ. Ví dụ, sự kiện bão, lụt, động đất, chiến tranh … và phải được Tòa án thừa nhận. Đây là quy định nhằm xác định tính rõ ràng của tình tiết, sự kiện. Quyền thừa nhận một sự kiện nào đó là sự kiện mọi người đều biết không cần chứng minh phải thuộc về Tòa án, vì Tòa án là cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết vụ, việc dân sự. Thực tế mức độ phổ biến của các tình tiết, sự kiện mọi người đều biết có thể rất khác nhau, có tình tiết, sự kiện phổ biến ở phạm vi rất rộng, có thể cả thế giới biết, nhưng cũng có tình tiết, sự kiện chi phổ biến ở phạm vi hẹp (một tỉnh, một huyện thậm chí là phạm vi của một cụm dân cư). Vấn đề đặt ra là tình tiết, sự kiện phổ biến ở mức độ nào thì không phải chứng minh? Thực tiễn xét xử tại các Tòa án cho thấy không thể xác định được chính xác những người biết được tình tiết, sự kiện. Vì thế, việc đánh giá mức độ phổ biến của tình tiết, sự kiện mọi người đều biết chỉ mang tính tương đối nên BLTTDS không thể quy định giới hạn tối thiểu về mức độ phổ biến của tình tiết, sự kiện không cần chứng minh. Khi đương sự viện dẫn việc xác định tình tiết, sự kiện mọi người đều biết không phải chưng minh trong mỗi trường hợp cụ thể, cần phải căn cứ vào thời gian xảy ra tình tiết, sự kiện. Bởi vì , tính chất rõ ràng của tình tiết, sự kiện có thể mất dần đi theo thời gian trong trí nhớ của con người. Do đó, một sự kiện lúc đầu có thể là sự kiện mọi người đều biết không cần phải chứng minh nhưng nếu xảy ra đã lâu thì vẫn có thể phát chứng minh lại trong quá trình tố tụng. Vì vậy, cần xem xét từng trường hợp cụ thể về mức độ phổ biến tín tức của các tình tiết, sự kiện. Trường hợp sử dụng các sự kiện phổ biến ở phạm vi lãnh thổ nhất định để giải quyết vụ việc dân sự thì phải thuyết phục được Tòa án vị cho sự kiện này không phải chứng minh để tránh trường hợp có những vụ việc dân sự được Tòa án xét xử lại ở cấp xét xử khác thì ở cấp xét sử đỏ Tòa án chưa chắc đã biết rõ về sự kiện này. Ngoài ra, trên cơ sở yêu cầu của việc công khai, minh bạch các hoạt động xét xử, đương sự để xuất Tòa án quyết định thừa nhận hay không thừa nhận các tình tiết, sự kiện mà mọi người đều biết.

– Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. Một sự kiện xảy ra có thể làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một hoặc nhiều quan hệ pháp luật. Những quan hệ pháp luật này có thể được xem xét ở những thời điểm khác nhau, trong những vụ án khác nhau, thậm chí ở những Tòa án khác nhau. Việc thừa nhận sự kiện, tình tiết không cần chứng minh phải là sự kiện trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật với những chứng cứ đã được kiểm tra, xác minh. Điều này có ý nghĩa đảm bảo cho công tác xét xử của Tòa án được nhanh chóng, chính xác, đồng thời khắc phục tình trạng có thể xảy ra mâu thuẫn giữa những quyết định của Toà án và các cơ quan có thẩm quyền về cùng một vấn đề. Mặc dù không phải chứng minh nhưng khi sử dụng những sự kiện không cần phải chứng minh, đương sự phải nêu rõ nguồn gốc, xuất xứ của những sự kiện đó … Hơn nữa, việc chứng minh lại một tình tiết, sự kiện còn có khả năng dẫn đến sự phức tạp trong việc giải quyết vụ, việc dân sự, kéo dài thủ tục tố tụng dân sự

Mặc dù không xem xét lại tình tiết, sự kiện đã được xác định trong những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên, trong những trường hợp cá biệt khi có nghi ngờ về tính đúng đắn của tình tiết, sự kiện tùy từng trường hợp, đương sự có thể đề nghị chủ thể có thẩm quyền kháng  nghị xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc thủ tục tái thẩm.

– Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp, trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thi Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan công chứng chứng thực xuất trình bản gốc. Văn bản công chứng không có giá trị chứng cứ nêu văn bản đó không hợp pháp, thực hiện không đúng thẩm quyền, không tuân theo quy định của pháp luật về công chứng, hoặc bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu. Trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc. Khi vận dụng, viện dẫn tình tiết , sự kiện này trong quá trình chứng minh, Luật sư cần tư vấn cho khách hàng nên cân nhắc kiểm tra để xác định có cần đưa ra yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu hay không, khi xem xét những tình tiết, sự kiện mà văn bản công chứng vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện đặc thù của giao dịch công chứng nói riêng.

– Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Sự thừa nhận của một bên đương sự hay người đại diện của họ có giá trị loại trừ cho đương sự phía bên kia khởi nghĩa vụ chứng minh. Điều này xuất phát từ một vấn đề thuộc bản chất của chứng minh là làm cho đương sự bên kia thấy rõ sự tồn tại của các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự.

– Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện. Việc tham gia tố tụng của người đại diện của. đương sự trong tố tụng dân sự nói chung và người đại diện theo ủy quyền nói riêng có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các vụ án dân sự. Khi không thể trực tiếp tham gia tố tụng dân sự, đương sự có thể ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Người đại diện theo ủy quyền thực hiện hành vi nhân danh người đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự theo sự ủy quyền trong tố tụng dân sự. Bên đại diện và bên được đại diện biểu hiện ý chi thông qua hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền. Nội dung ủy quyền, phạm vi ủy quyền đại diện và trách nhiệm của người đại diện theo ủy quyền được xác định thông qua sự thỏa thuận của người đại diện và người được đại diện. Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện phù hợp với quy định về đại diện được ghi nhận từ pháp luật nội dung đến pháp luật tố tụng dân sự.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *