Trang chủ » Xác định quan hệ pháp luật đang tranh chấp trong thu thập chứng cứ

Xác định quan hệ pháp luật đang tranh chấp trong thu thập chứng cứ

Hoạt động thu thập chứng cứ nhằm chuẩn bị cơ sở pháp lý, căn cứ để đáp ứng những yêu cầu về đối tượng cần phải chứng minh. Do đó, để xác định được nội dung cần tiến hành xác minh, thu thập phải căn cứ vào đối tượng chứng minh. Xem xét quy định của pháp luật hiện hành, các nội dung thu thập chứng cứ Luật sư cần đặt trọng tâm vào những điều kiện xác định quan hệ pháp luật đang tranh chấp. Sau đây Luật Everest xin chia sẻ tới quý bạn đọc để làm rõ hơn về vấn đề này. 

Lựa chọn từ ngữ
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Xác định quan hệ pháp luật đang tranh chấp trong thu thập chứng cứ

Đây là yếu tố đầu tiên có ý nghĩa định hướng cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự cũng như việc xác định thủ tục tố tụng để giải quyết. Về nguyên tắc, quan hệ xã hội xảy ra tại thời điểm nào thì áp dụng pháp luật đang có hiệu lực ở thời điểm đó để giải quyết, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác. Việc xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết dựa trên cơ sở yêu cầu của các đương sự và bản chất của từng loại vụ việc dân sự đó được luật nội dung điều chỉnh. Do đó, Luật sư xác định quan hệ pháp luật tranh chấp sẽ tìm ra được các đặc trưng của loại án, từ đó là cơ sở để xác định những vấn đề cần chứng minh của vụ án.(đọc về: hợp đồng đặt cọc mua nhà)

Chứng minh là hoạt động hướng tới một đối tượng cụ thể. Theo Từ điển tiếng Việt “Đối tượng là người, vật, hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ và hành động”. Đối tượng chứng minh là tổng hợp những sự kiện, tình tiết làm cơ sở cho yêu cầu của đương sự và những sự kiện, tình tiết khác có ý nghĩa để giải quyết đúng vụ việc ân sự cần được xác định bằng chứng cứ trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự.

Xét ví dụ cụ thể

Ví dụ : Theo nội dung đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị Lạnh: Chị và anh Hoàng Văn Ba là anh em ruột. Năm 2009, chị đi lao động tại Hàn Quốc, chị gửi hàng cho anh Ba giữ, sau đó anh Ba bán, tổng số tiền bán được là 130.000 USD (khoảng 2.860.000.000 đồng).

Năm 2014, anh Ba báo cho chị biết địa phương tổ chức bán đất Đấu thầu, chị đã gửi thư cho anh Ba nhờ anh Ba mua hộ 01 suất đất để sau này về có chỗ ở. Anh Ba đã mua 01 suất đất đấu thầu 100m2 thuộc tờ bản đồ số 04, thửa số 521 tại quận K, thành phố với giá 750 triệu đồng. Việc anh Ba mua đất đấu thầu có mẹ chị, chị Lành là chị ruột, ông Sáp là chú ruột, ông Thế là anh con bác ruột, ngoài ra còn có anh Dũng, anh Chiến và dân làng cùng biết. Năm 2014, chị để anh Ba đứng tên làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.  Năm 2015, anh Ba tự làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất chị nhờ mua cho anh Vũ Quang, chị phát hiện nên có đơn đề nghị cấp có thẩm quyền tạm dừng việc chuyển nhượng và làm đơn khởi kiện anh Ba với các yêu cầu cụ thể: Trả lại quyền sử dụng đất chị đã nhờ anh Ba mua hộ bằng tiền từ năm 2014 và số tiền còn thiếu là 2.110.000 đồng.(quan tâm về: tư vấn pháp luật thừa kế)

Theo lời trình bày của anh Hoàng Văn Ba : Năm 2014, anh mua đất đấu thầu với giá 750 triệu đồng là tiền của gia đình anh vay mượn. Anh đã làm thủ tục và đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay chị Lạnh khai nhờ anh mua hộ đất đấu thầu bằng tiền của chị Lạnh là không đúng. Anh không chấp nhận yêu cầu của chị Lạnh đời anh trở lại đất và số tiền. Chị Lạnh yêu cầu anh trả lại 130.000 USD anh xác nhận anh còn giữ hộ chị Lạnh 70.000 USD vì trong lá thư chị Lạnh gửi về ngày 05/10/2014, chị Lạnh cho cháu Yến 60.000 USD, anh nhất trí trả lại cho chị Lạnh 70.000 USD.

Theo lời trình làm từ chị Phạm Thị Xuyên, chik là vợ anh Ba, việc chị gửi về cho anh Ba hàng, tiền nhờ giữ hộ như thế nào chị không biết. Chị chỉ biết năm 2014 vợ chồng chị mua đất đấu thầu hoàn toàn bằng tiền của gia đình chị và vay mượn thêm. Đất đứng tên anh Ba, gia đình chị chuyển nhượng cho anh Quang, chị đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của chị Lạnh.

Theo lời trình bày của anh Vũ Quang: Ngày 04/4/2015, vợ chồng anh và vợ chồng anh Ba thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng 100m2 đất thu trên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0024QSDĐ ngày 26/5/2014 đứng tên anh Hoàng Văn Ba. Việc chuyển nhượng là tự nguyện, có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đang tiến hành sang tên. Vợ chồng anh đi thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận trong hợp đồng. Anh đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh và vợ chồng anh Ba .(đọc thêm: tổng đài tư vấn giao thông đường bộ)

Căn cứ theo nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn, chị Hoàng Thị Lạnh yêu cầu đòi quyền sử dụng 100m2 đất và yêu cầu buộc vợ chồng anh Hoàng Văn Ba trả lại số tiền còn thiếu là 2.110.000 đồng, đồng thời yêu cầu chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa vợ chồng anh Ba và anh Vũ Quang. Về quan hệ pháp luật tranh chấp – định hướng cho việc thu thập chứng cứ để chứng minh theo đặc trưng của loại án, Luật sư cần làm rõ những quan hệ pháp luật sau:

Thứ nhất, về hợp đồng gửi giữ và tặng cho tài sản. Theo quy định tại khoản 1 Điều 91 BLTTDS năm 2015 đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh nguyên đơn đã gửi cho bị đơn 130.000 USD thuộc về phía nguyên đơn – chị Lạnh. Tuy nhiên, lời thừa nhận của anh Ba xác định anh còn giữ hộ chị Lạnh 130.000 USD, sự thừa nhận nảy phù hợp với nội dung lá thư chị Lạnh viết cho anh Ba ngày 05/10/2014 có đoạn : “ … Sổ tiên canh giữ cho em, em cho cháu Yến 60.000 USD, bây giờ số tiền anh còn cầm của em là 70.000 USD”. Áp dụng khoán 2 Điều 93 BLTTDS năm 2015 có thể khẳng định thừa nhận này là chứng cứ không cần phải chứng minh. Với các tình tiết trên, mới chỉ đủ cơ sở để khẳng định có việc gửi giữ 70.000 USD và việc tặng cho tài sản. Căn cứ quy định của BLDS năm 2005 về tặng cho động sản, hợp đồng tặng cho tài sản đã hoàn tất khi tài sản được chuyển giao cho người nhận là con anh Ba – cháu Yến. Trong quan hệ hợp đồng gửi giữ này, anh Ba có nghĩa vụ trả cho chị Lạnh 70.000 USD quy đổi ra tiền Việt Nam đồng theo giả thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm.

Thứ hai, tranh chấp về quyền sử dụng đất hay tranh chấp về thực hiện công việc không có đủ quyền. Về vấn đề này tồn tại hai quan điểm xác định quan hệ pháp luật: (i) Tranh chấp quyền sử dụng đất, bản chất xác định ai là người có quyền sử dụng đất mà vấn đề trọng tâm cần phải chứng minh trong vụ án là căn cứ để xác lập quyền sử dụng đất. (ii) Quan hệ thực hiện nghĩa vụ không có ủy quyền. Cụ thể là  xác định sự thật anh Ba mua đấu giá quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00214 QSDĐ ngày 26/5/2014 hiện đứng tên anh Ba là anh Ba mua hay là việc nhận ủy quyền đứng tên hoặc là việc thực hiện công việc không có ủy quyền.(quan tâm tới: tư vấn sở hữu trí tuệ)

Khó khăn chính là sự phân biệt bản chất của hai quan hệ pháp luật ủy quyền nhận chuyển nhượng hay là quan hệ thực hiện công việc không có ủy quyền. Trong trường hợp này, Luật sự cần xác định được đối tượng chứng minh của vụ án trên cơ sở luận giải về bản chất của quan hệ pháp luật. Cơ sở lý luận để phân biệt hai quan hệ pháp luật: trong quan hệ ủy quyền, căn cứ theo sự thỏa thuận của các bên, bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền. Người được ủy quyền thay mặt người ủy quyền thực hiện một số hành vi pháp lý nhất định liên quan đến quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng hoặc lợi ích của người đã ủy quyền. Khi thực hiện công việc của người khác không có ủy quyền, địa vị pháp lý của người thực hiện công việc không có ủy quyền tương tự như người được ủy quyền và đều hướng tới mục đích thực hiện nghĩa vụ vì lợi ích của chủ thể khác. Đây là yếu tố giáp ranh của hai quan hệ pháp luật.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

19006198
Liên hệ