Hãng Luật (Law Firm)

"Luật sư luôn có cơ hội làm việc tử tế. Vậy nếu chọn làm Luật sư, bạn hãy là một Luật sư tử tế".

- Luật sư Phạm Ngọc Minh - Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH Everest

Hãng Luật (Law Firm)

Hãng Luật (Law Firm) là một Thực thể kinh doanh (Business Entity) được thành lập bởi một hoặc nhiều Luật sư (Lawyers) để tham gia Hành nghề Luật. Dịch vụ chính do Hãng Luật cung cấp là tư vấn cho khách hàng (cá nhân hoặc doanh nghiệp) về các quyền và trách nhiệm pháp lý của họ, đại diện cho khách hàng trong các vụ việc dân sự, hình sự, kinh doanh... và hỗ trợ pháp lý khác.

Hãng Luật thường được tổ chức bởi các Đối tác (Partners) - những người là Chủ sở hữu chung (Joint Owners), Giám đốc kinh doanh (Business Directors), Cộng sự (Associates), Nhân viên (Employees) - cung cấp các dịch vụ Trợ lý pháp lý (Paralegal), Văn thư (Clerical) và Dịch vụ hỗ trợ (Support Services) khác.

Quy mô của các Công ty Luật rất khác nhau. Các Hãng Luật nhỏ nhất là các Luật sư hành nghề đơn lẻ - chiếm đại đa số ở hầu hết các Quốc gia. Các Công ty Luật lớn nhất có thể có trên 1.000 Luật sư (Big Law). Ngày nay, xuất hiện mô hình Hãng Luật ảo (Virtual Law), Luật mới (New Law).

Liên hệ

TỔ CHỨC CỦA CÁC HÃNG LUẬT:

Các Hãng Luật được tổ chức theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào khu vực tài phán mà Hãng Luật hành nghề.

1- Tổ chức của Hãng Luật:

Doanh nghiệp tư nhân (Sole Proprietorship): trong đó Luật sư là Hãng Luật (Law Firm) và chịu trách nhiệm về mọi khoản lãi, lỗ và trách nhiệm pháp lý.

Quan hệ Đối tác chung (General Partnership): trong đó tất cả các Luật sư là thành viên của Hãng Luật, chia sẻ quyền sở hữu, lợi nhuận và trách nhiệm pháp lý.

Công ty trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability Company): trong đó Luật sư - Chủ sở hữu được gọi là "Thành viên" (Members) nhưng không chịu trách nhiệm trực tiếp với các Chủ nợ của Công ty Luật.

Một số nước cho phép Công ty Luật tổ chức theo hình thức "Công ty trách nhiệm hữu hạn chuyên nghiệp" (Professional Limited Liability Company hoặc PLLC).

Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability Partnership - LLP): trong đó các Luật sư - Chủ sở hữu là Đối tác với nhau, nhưng không có Đối tác nào chịu trách nhiệm trước bất kỳ Chủ nợ nào của Công ty Luật, cũng như không có Đối tác nào chịu trách nhiệm về bất kỳ sơ suất nào của bất kỳ Đối tác khác. LLP bị đánh thuế như một Công ty hợp danh (Partnership) trong khi được hưởng sự bảo vệ trách nhiệm pháp lý của một Công ty (Corporation).

Các Tập đoàn chuyên nghiệp (Professional Corporations): phát hành cổ phiếu cho các Luật sư theo cách tương tự như cổ phiếu của một Tập đoàn kinh doanh (Business Corporation).

Hiệp hội nghề nghiệp (Professional Association): hoạt động tương tự như một Công ty chuyên nghiệp (Professional Corporation) hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability company).

2- Hạn chế về Sở hữu tài sản (Restrictions on Ownership Interests):

Ở nhiều quốc gia, bao gồm Mỹ, có quy định rằng: chỉ Luật sư mới có quyền sở hữu hoặc là người quản lý Hãng Luật. Vì vậy, các Hãng Luật không thể huy động vốn thông qua Phát hành lần đầu ra công chúng trên thị trường chứng khoán (Initial public offerings on the Stock market), giống như hầu hết các Tập đoàn. Họ phải huy động vốn thông qua các khoản góp vốn bổ sung từ các Đối tác góp vốn (Parner) hiện có hoặc bổ sung, hoặc phải vay nợ, thường dưới hình thức hạn mức tín dụng được đảm bảo bằng các khoản phải thu của Công ty Luật.

Tại Mỹ, toàn bộ quy định này đối với quyền sở hữu của người không phải Luật sư đã được Hiệp hội Luật sư Mỹ quy định thành đoạn (d) của Quy tắc 5.4 của Quy tắc Mẫu về Ứng xử Chuyên nghiệp (Model Rules of Professional Conduct) và đã được thông qua dưới hình thức này hay hình thức khác trong tất cả các khu vực tài phán của Mỹ, ngoại trừ Đặc khu Columbia (D.C's rule).

Tuy nhiên, Quy tắc của D.C được điều chỉnh trong phạm vi hẹp, để chỉ cho phép sở hữu cổ phần bởi những Đối tác không phải là Luật sư, những người tích cực hỗ trợ Luật sư của Công ty Luật cung cấp dịch vụ pháp lý. Quy tắc D.C cũng không cho phép các đối tác này bán cổ phần sở hữu cho các Nhà đầu tư không phải là Luật sư.

Vương quốc Anh cũng có quy định tương tự: cấm quyền sở hữu của những người không phải là Luật sư. Nhưng theo những cải cách được thực hiện bởi Đạo luật Dịch vụ Pháp lý năm 2007 (The Legal Services Act of 2007), các Công ty Luật đã có thể tiếp nhận một số lượng hạn chế Đối tác không phải là Luật sư, đồng thời Luật sư được phép tham gia vào nhiều mối quan hệ kinh doanh với những người không phải là Luật sư và các Doanh nghiệp không thuộc sở hữu của Luật sư. Ví dụ: quy định này đã cho phép các công ty, ngân hàng, các tổ chức cộng đồng thuê Luật sư để cung cấp các dịch vụ pháp lý cơ bản tại cửa hàng và dịch vụ trực tuyến cho khách hàng.

Tuy nhiên, quy tắc đang gây tranh cãi. Điều này được nhiều người trong Ngành Luật chứng minh, đáng chú ý là Hiệp hội Luật sư Mỹ (The American Bar Association), đã từ chối đề xuất thay đổi quy tắc trong các cải cách Đạo đức 20/20, vì cần thiết để ngăn chặn 'xung đột lợi ích'.

Trong hệ thống đối kháng, Luật sư có nhiệm vụ trở thành người biện hộ trung thành thay mặt cho khách hàng. Luật sư đồng thời có nghĩa vụ không lập hóa đơn quá mức cho khách hàng. Ngoài ra, với tư cách là một Chức danh Tư pháp, Luật sư có nghĩa vụ phải trung thực và không nộp đơn kiện hoặc đưa ra những lời bào chữa phù phiếm.

Nhiều người trong Nghề Luật tin rằng, một Luật sư làm việc với tư cách là cổ đông (nhân viên) của một Công ty Luật giao dịch công khai có thể bị cám dỗ để đánh giá các quyết định về ảnh hưởng của chúng đối với giá cổ phiếu và các cổ đông, điều này sẽ mâu thuẫn trực tiếp với nghĩa vụ của Luật sư đối với khách hàng và trước Tòa án. Tuy nhiên, những người chỉ trích quy tắc này tin rằng, đó là cách không phù hợp để bảo vệ quyền lợi của khách hàng.

3- Công ty Luật đa Quốc gia (Multinational Law Firms):

Các Công ty Luật hoạt động ở nhiều quốc gia thường có cấu trúc phức tạp, liên quan đến nhiều quan hệ đối tác. Đặc biệt, các Quốc gia, Vùng lãnh thổ như: Hồng Kông và Nhật Bản quy định hạn chế quan hệ đối tác giữa Luật sư trong nước và Luật sư nước ngoài.

Một cấu trúc phần lớn là duy nhất đối với các Công ty Luật đa quốc gia lớn như Baker McKenzie (tiên phong vào năm 2000): nhiều quan hệ Đối tác quốc gia hoặc khu vực tạo thành một Hiệp hội. Các Luật sư đối tác sẽ chia sẻ Thương hiệu, Chức năng Hành chính và các chi phí hoạt động khác, nhưng vẫn duy trì các Nhóm doanh thu riêng biệt và thường là cấu trúc Thù lao Đối tác riêng biệt.

Các Công ty Luật đa Quốc gia khác hoạt động dưới hình thức Công ty Hợp danh duy nhất trên toàn thế giới, chẳng hạn như Công ty Hợp danh trách nhiệm hữu hạn của Anh hoặc Mỹ, trong đó các Thành viên hợp danh cũng tham gia vào các đơn vị điều hành địa phương ở nhiều quốc gia khác nhau theo yêu cầu của quy định địa phương.

4- Chỉ số tài chính của Hãng Luật:

Ba (03) số liệu thống kê tài chính thường được sử dụng để đo lường và xếp hạng hoạt động của các Công ty Luật:

Lợi nhuận trên mỗi đối tác góp vốn (Profits Per Equity Partner - PPEP hoặc PPP): Thu nhập hoạt động ròng chia cho số lượng đối tác góp vốn. PPP cao thường tương quan với uy tín của một công ty và sức hấp dẫn của nó đối với các đối tác cổ phần tiềm năng. Tuy nhiên, chỉ số này dễ bị thao túng bằng cách phân loại lại các đối tác ít sinh lời hơn thành các đối tác phi vốn chủ sở hữu.

Doanh thu trên mỗi Luật sư (Revenue Per Lawyer - RPL): Tổng doanh thu chia cho số lượng Luật sư. Thống kê này cho thấy khả năng tạo doanh thu của các Luật sư của công ty nói chung, nhưng không tính đến chi phí của công ty như bồi thường liên kết và chi phí văn phòng.

Thù lao trung bình của các Đối tác (Average Compensation of Partners - ACP): Tổng số tiền trả cho các đối tác công bằng và không công bằng (nghĩa là thu nhập hoạt động ròng cộng với thù lao đối tác không công bằng) chia cho tổng số đối tác công bằng và không công bằng. Điều này dẫn đến một thống kê toàn diện hơn so với PPP, nhưng vẫn dễ bị thao túng bằng cách thay đổi chính sách chi phí và phân loại lại các đối tác ít sinh lời hơn thành công ty liên kết.

Xem thêm: Mạng lưới Công ty Luật (Law Firm Network)

Cấp

Hãng Luật

Doanh thu (USD)

Luật sư

Doanh thu trên mỗi Luật sư (USD)

Lợi nhuận trên mỗi Đối tác (USD)

Quốc gia có nhiều Luật sư nhất

1

Kirkland & Ellis

$4.154.600.000

2.598

$1,599,000

$5,195,000

  Mỹ

2

Latham & Watkins

$3,767,623,000

2.720

$1,385,000

$3,352,000

 Mỹ

3

DLA Piper (Verein)

$3,112,130,000

3,894

$799,000

$1,874,000

 Anh/Mỹ

4

Dentons (Verein)  

10,977

$266,000

$533,000

 Anh/Mỹ

5

Backer McKenzie (Verein)

$2,899,600,000

4.809

$603,000

$1,443,000

 Mỹ

6

Skadden, Arps, Slate, Meagher & Flom

$2,632,615,000

1.694

$1,554,000

$3,919,000

 Mỹ

7

Clifford Chance

$2.500.000.000

2.489

$1,005,000

$2,350,000

 Anh

8

Sidley Austin

$2,337,803,000

1,922

$1,217,000

$2,551,000

 Mỹ

9

Morgan, Lewis & Bockius

$2,265,000,000

2.063

$1,098,000

$1,391,000

 Mỹ

10

Hogan Lovells

$2,246,050,000

2.642

$850,000

$1,381,000

 Mỹ

 

CƠ CẤU VÀ THĂNG TIẾN TRONG CÁC HÃNG LUẬT:

1- Quan hệ đối tác (Partnership):

Các Công ty Luật thường được tổ chức bởi tập hợp các Đối tác (Partners), những người là Chủ sở hữu chung (Joint Owners) và Giám đốc kinh doanh (Business Directors) hoạt động pháp lý; Cộng sự (Associates), là Nhân viên (Employees) của công ty với triển vọng trở thành Đối tác; và nhiều nhân viên khác nhau, cung cấp các dịch vụ Trợ lý pháp lý (Paralegal), Văn thư (Clerical) và các Dịch vụ hỗ trợ (Support Services) khác. Một Cộng sự có thể phải đợi tới 11 năm trước khi đưa ra quyết định về việc liệu Cộng sự đó có trở thành Đối tác hay không.

Nhiều Công ty Luật có "Chính sách Tăng hoặc Giảm" (Up or Out Policy), không thể thiếu đối với Hệ thống Cravath (The Cravath System), đã được Đối tác Paul Cravath của Cravath, Swaine & Moore đi tiên phong vào đầu Thế kỷ XX và được áp dụng rộng rãi, đặc biệt là bởi các Công ty Giày trắng (White Shoe Firms). Theo đó, các Cộng sự không trở thành Đối tác được yêu cầu từ chức và có thể gia nhập một Công ty Luật khác, hoặc trở thành Người hành nghề độc lập, hoặc làm việc nội bộ cho bộ phận pháp lý của Công ty hoặc thay đổi ngành nghề. Tỷ lệ kiệt sức đặc biệt cao trong nghề Luật sư.

Việc trở thành Đối tác rất có uy tín tại các Công ty Luật lớn hoặc vừa, do sự cạnh tranh, tất nhiên là do tỷ lệ liên kết với Đối tác cao hơn. Các công ty như vậy có thể đăng quảng cáo trên các ấn phẩm chuyên nghiệp để thông báo ai đã trở thành Đối tác.

Theo truyền thống, các Đối tác được chia sẻ trực tiếp lợi nhuận của công ty, sau khi trả lương cho nhân viên, chủ nhà và các chi phí thông thường về đồ nội thất, đồ dùng văn phòng và sách cho thư viện luật (hoặc đăng ký cơ sở dữ liệu). Các đối tác trong công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn phần lớn có thể hoạt động độc lập liên quan đến việc phát triển hoạt động kinh doanh mới và phục vụ các khách hàng hiện tại trong danh sách kinh doanh của họ.

Các phương thức bồi thường cho đối tác rất khác nhau giữa các Công ty Luật. Tại các Công ty Luật lớn của Mỹ, "sự chênh lệch đền bù" (tỷ lệ giữa mức lương của đối tác cao nhất và mức lương của đối tác thấp nhất) giữa các công ty tiết lộ thông tin nằm trong khoảng từ 3:1 đến 24:1. Mức chênh lệch cao hơn nhằm thúc đẩy hiệu suất cá nhân, trong khi mức chênh lệch thấp hơn nhằm thúc đẩy tinh thần đồng đội và tính tập thể.

Nhiều Công ty Luật lớn đã chuyển sang mô hình hợp tác hai tầng, với các thành viên góp vốn và không góp vốn. Các đối tác góp vốn được coi là có cổ phần sở hữu trong công ty và chia sẻ lợi nhuận (và thua lỗ) của công ty. Các đối tác không góp vốn thường được trả một mức lương cố định (mặc dù cao hơn nhiều so với các cộng sự) và họ thường được cấp một số quyền biểu quyết hạn chế đối với hoạt động của công ty.

Mối quan hệ hợp tác liên tục lâu đời nhất ở Mỹ là của Cadwalader, Wickersham & Taft, được thành lập vào năm 1792, tại Thành phố New York. Công ty luật lâu đời nhất hoạt động liên tục tại Mỹ là Rawle & Henderson, được thành lập năm 1783, tại Philadelphia.

2- Chấm dứt quan hệ đối tác:

Rất hiếm khi một đối tác bị các đối tác ép buộc ra đi, mặc dù điều đó có thể xảy ra nếu đối tác phạm tội hoặc sơ suất, mắc bệnh tâm thần gây rối loạn hoặc không đóng góp vào lợi nhuận chung của công ty. Tuy nhiên, một số công ty lớn đã ghi vào thỏa thuận hợp tác của họ quy định tuổi nghỉ hưu bắt buộc đối với các đối tác, có thể từ 65 tuổi trở lên. Ngược lại, hầu hết các giám đốc điều hành của công ty có nguy cơ bị sa thải cao hơn nhiều, ngay cả khi nguyên nhân cơ bản không phải là lỗi trực tiếp của họ, chẳng hạn như sự sụt giảm giá cổ phiếu của công ty. Trên toàn thế giới, tuổi nghỉ hưu của đối tác có thể khó ước tính và thường rất khác nhau, đặc biệt là vì ở nhiều quốc gia, việc quy định tuổi nghỉ hưu là bất hợp pháp.

3- Vai trò "cố vấn":

Tại Mỹ, Canada và Nhật Bản, nhiều công ty lớn và vừa có Luật sư với chức danh công việc là "cố vấn", "cố vấn đặc biệt" hoặc "cố vấn", như Tòa án Tối cao California đã lưu ý, tiêu đề đã có một số định nghĩa liên quan nhưng khác biệt, không dễ phù hợp với cấu trúc liên kết đối tác truyền thống.

Những Luật sư này là những người làm việc cho công ty, giống như cộng sự, mặc dù một số công ty có nhà thầu độc lậpmối quan hệ với cố vấn của họ. Nhưng không giống như các cộng sự và giống như các đối tác hơn, họ thường có khách hàng riêng, quản lý các trường hợp của riêng họ và giám sát các cộng sự. Các mối quan hệ này được cấu trúc để cho phép nhiều Luật sư cấp cao hơn chia sẻ các nguồn lực và "thương hiệu" của công ty mà không phải là một phần của các quyết định quản lý hoặc chia sẻ lợi nhuận. Chức danh này thường được thấy ở những cộng sự cũ không trở thành đối tác, hoặc những người sau đó được tuyển dụng vào các công ty khác, hoặc những người làm cố vấn nội bộ và sau đó quay trở lại môi trường công ty lớn.

Tại một số công ty, danh hiệu "Luật sư" được trao cho các đối tác đã nghỉ hưu, những người vẫn duy trì mối quan hệ với công ty. Đôi khi "Luật sư" đề cập đến các Luật sư cao cấp hoặc có kinh nghiệm, chẳng hạn như tư vấn pháp luật nước ngoài, có kinh nghiệm chuyên môn trong các khía cạnh cụ thể của pháp luật và thực tiễn. Họ được các công ty lớn thuê làm nhà thầu độc lập như một thỏa thuận đặc biệt, điều này có thể mang lại kết quả có lợi cho quan hệ đối tác. Trong một số trường hợp, "Luật sư" có thể được coi là trạng thái chuyển tiếp trong công ty.

4- Sáp nhập và Mua lại giữa các Công ty Luật:

Việc Sáp nhập, Mua lại, Chia tách và tổ chức lại xảy ra giữa các Công ty Luật cũng như trong các doanh nghiệp khác. Các cuốn sách cụ thể về kinh doanh và chuyên môn của Luật sư cũng như cấu trúc đạo đức nghề nghiệp xung quanh xung đột lợi ích có thể dẫn đến việc các công ty tách ra để theo đuổi các khách hàng hoặc hoạt động thực tiễn khác nhau, hoặc sáp nhập hoặc tuyển dụng các Luật sư có kinh nghiệm để có được khách hàng hoặc lĩnh vực hành nghề mới.

Kết quả thường khác nhau giữa các công ty trải qua quá trình chuyển đổi như vậy. Các công ty có được các lĩnh vực hoặc bộ phận thực hành mới thông qua tuyển dụng hoặc sáp nhập phức tạp hơn và đòi hỏi khắt khe hơn (và thường mang lại nhiều lợi nhuận hơn) có thể thấy trọng tâm, tổ chức và nguồn lực của công ty chuyển đáng kể sang các bộ phận mới đó. Ngược lại, các công ty có thể được sáp nhập giữa các Luật sư có kinh nghiệm với tư cách là đối tác vì mục đích chia sẻ tài chính và nguồn lực,

Việc Sáp nhập Công ty Luật có xu hướng mang tính chất phân loại, trong đó chỉ những Công ty Luật hoạt động trong các hệ thống pháp luật tương tự mới có khả năng sáp nhập. Ví dụ: các Công ty Luật của Mỹ thường sẽ hợp nhất với các Công ty Luật của Anh hoặc các Công ty Luật từ các khu vực pháp lý Thông luật khác. Một ngoại lệ đáng chú ý là King & Wood Mallesons, một Công ty Luật đa Quốc gia là kết quả của sự hợp nhất giữa một Công ty Luật của Úc và một Công ty luật của Trung Quốc.

Mặc dù sáp nhập phổ biến hơn ở các nền kinh tế tốt hơn, chậm lại một chút trong thời kỳ suy thoái, các Công ty Luật lớn đôi khi sử dụng sáp nhập như một chiến lược để tăng doanh thu trong thời kỳ suy thoái. Tuy nhiên, dữ liệu từ Altman Weil chỉ ra rằng, chỉ có bốn (4) Công ty Luật sáp nhập trong nửa đầu năm 2013, so với tám (08) Công ty Luật trong cùng kỳ năm 2012, và điều này được họ coi là dấu hiệu cho thấy sự suy giảm tinh thần đối với nền kinh tế hợp pháp và số lượng yêu cầu.

QUY MÔ CỦA CÁC HÃNG LUẬT:

Các Hãng Luật có thể rất khác nhau về quy mô. Các Hãng Luật nhỏ nhất là các Luật sư hành nghề đơn lẻ, chiếm đại đa số Luật sư ở hầu hết các quốc gia.

Các Hãng Luật nhỏ hơn có xu hướng tập trung vào các chuyên ngành cụ thể của luật, ví dụ: Luật sáng chế, Luật lao động, Luật thuế, Phòng chống tội phạm, Thương tích cá nhân. Các Hãng Luật lớn hơn có thể bao gồm một số nhóm hành nghề chuyên biệt, cho phép công ty đa dạng hóa cơ sở khách hàng và thị trường của mình, đồng thời cung cấp nhiều loại dịch vụ cho khách hàng của họ.

Các Hãng Luật lớn thường có các bộ phận tranh tụng và giao dịch riêng biệt. Bộ phận giao dịch tư vấn cho khách hàng và xử lý công việc pháp lý giao dịch, chẳng hạn như soạn thảo hợp đồng, xử lý các đơn và hồ sơ pháp lý cần thiết, đánh giá và đảm bảo tuân thủ luật pháp liên quan; trong khi bộ phận kiện tụng đại diện cho khách hàng tại tòa án và xử lý các vấn đề cần thiết (chẳng hạn như khám phá và kiến ​​nghị đệ trình lên Tòa án) trong suốt quá trình kiện tụng.

1- Hãng Luật nhỏ (Boutique Law Firms):

Các Luật sư ở các thành phố và thị trấn nhỏ có thể vẫn có các thông lệ chung kiểu cũ, nhưng hầu hết các Luật sư ở thành thị có xu hướng chuyên môn hóa cao do sự phức tạp quá mức của luật ngày nay. Do đó, một số Công ty Luật nhỏ ở thành phố chỉ chuyên hành nghề một loại luật (như: việc làm, chống độc quyền, sở hữu trí tuệ, quỹ đầu tư, viễn thông hoặc hàng không) và được gọi là Công ty Luật nhỏ (Boutique Law Firms).

2- Hãng Luật ảo (Virtual Law Firms):

Một bước phát triển của Thế kỷ 21 là sự xuất hiện của Công ty Luật ảo (Virtual Law Firms). Một Công ty Luật có địa chỉ kinh doanh ảo nhưng không có văn phòng chính thức mở cửa cho công chúng, sử dụng viễn thông hiện đại để hoạt động từ các địa điểm xa xôi và cung cấp dịch vụ của mình cho khách hàng quốc tế, tránh chi phí duy trì cơ sở vật chất với tổng chi phí thấp hơn so với các Hãng Luật truyền thống. Cấu trúc chi phí thấp hơn này cho phép các Công ty Luật ảo lập hóa đơn cho khách hàng trên cơ sở dự phòng thay vì theo số giờ có thể lập hóa đơn do người trả trước trả trước.

Những đổi mới liên quan bao gồm nhà cung cấp dịch vụ pháp lý thay thế (ALSP), gia công phần mềm pháp lý và đôi khi được gọi là "Luật mới".

Các Công ty Luật lớn nhất có hơn 1.000 Luật sư. Các công ty này, thường được gọi một cách thông tục là "Siêu công ty" hoặc "BigLaw ", thường có văn phòng ở một số châu lục, thanh toán 750 USD mỗi giờ hoặc cao hơn và có tỷ lệ nhân viên hỗ trợ trên mỗi Luật sư cao. Do tính chất địa phương và khu vực của các công ty, quy mô tương đối của một công ty khác nhau.

3- Luật mới (NewLaw):

Luật Mới (NewLaw) được nhà tư vấn Eric Chin nghĩ ra như một thuật ngữ vào năm 2013. NewLaw đã được định nghĩa là: “bất kỳ mô hình, quy trình hoặc công cụ nào thể hiện một cách tiếp cận khác biệt đáng kể đối với việc tạo ra hoặc cung cấp các dịch vụ pháp lý so với những gì mà nghề luật truyền thống đã sử dụng”.

Ví dụ: các mô hình ALSP của NewLaw có thể bao gồm các Công ty biệt phái (Secondment Firms), Công ty tư vấn luật và kinh doanh (Law and Business Advice Companies), mô hình Pháp lý trực tuyến ảo (Virtual Online Legal Models), Công ty Luật Sáng tạo (Innovative Law Firms).

4- Các Công ty "Dịch vụ trọn gói" ("Full service" Firms):

Các Công ty Luật lớn nhất thích tự gọi mình là các "BigLaw" vì họ có các bộ phận chuyên về từng loại công việc pháp lý, mà ở Mỹ thường có nghĩa là các giao dịch mua bán và sáp nhập, ngân hàng, và một số loại kiện tụng doanh nghiệp có rủi ro cao. Các BigLaw này hiếm khi làm các vụ việc hình sự.

Tuy nhiên, các Công ty Luật lớn nhất không lớn lắm so với các Công lớn khác (hoặc thậm chí các Công ty dịch vụ chuyên nghiệp khác).

Năm 2008, Công ty Luật lớn nhất thế giới là Clifford Chance LLP của Anh đạt doanh thu trên 02 tỷ USD. Năm 2020, Kirkland & Ellis đứng đầu với doanh thu 4,15 tỷ USD trong khi Hogan Lovellslọt vào danh sách ở vị trí thứ 10 với 2,25 tỷ USD, với Clifford Chance vẫn là Công ty Luật của Anh duy nhất trong số 10 BigLaw hàng đầu. Con số này có thể được so sánh với 404 tỷ USD của Công ty lớn nhất thế giới tính theo doanh thu ExxonMobil và 28 tỷ USD của Deloitte - Công ty dịch vụ chuyên nghiệp lớn nhất.

5- Xu hướng toàn cầu hóa:

Các Công ty Luật lớn nhất, được gọi là "Big Law", trên thế giới có trụ sở chính chủ yếu ở Vương quốc Anh và Mỹ. Tuy nhiên, các Công ty Luật lớn với hơn 1.000 Luật sư cũng xuất hiện Úc (MinterEllison, 1.500 Luật sư), Trung Quốc (Dacheng, 2.100 Luật sư), Tây Ban Nha (Garrigues, 2.100 Luật sư).

Hệ thống Luật sư cấp phép của Mỹ trên cơ sở từng Bang, truyền thống có trụ sở tại một Bang duy nhất của Mỹ và tập trung chặt chẽ vào lợi nhuận trên mỗi đối tác (trái ngược với quy mô tuyệt đối) cho đến nay đã hạn chế quy mô của hầu hết Công ty Luật của Mỹ. Do đó, trong khi các Công ty Luật có lợi nhuận cao nhất trên thế giới vẫn ở New York, bốn (04) trong số sáu (06) Công ty Luật lớn nhất trên thế giới có trụ sở tại London, Vương quốc Anh.

Nhưng quy mô khổng lồ của Mỹ dẫn đến số lượng các công ty lớn nói chung lớn hơn. Một bài báo năm 2003 lưu ý rằng, chỉ riêng Mỹ đã có 901 Công ty Luật với hơn 50 Luật sư, trong khi chỉ có 58 Công ty Luật như vậy ở Canada, 44 ở Greater. Anh, 14 ở Pháp và ở Đức Ngày càng có xu hướng Toàn cầu hóa (Worldwide) các Công ty Luật.

Do quy mô, các Công ty Luật có trụ sở tại Mỹ và Vương quốc Anh là những Công ty Luật có uy tín và quyền lực nhất trên thế giới và họ có xu hướng thống trị thị trường quốc tế về các dịch vụ pháp lý. Một bài báo nghiên cứu năm 2007 lưu ý rằng các công ty từ các quốc gia khác chỉ nhặt nhạnh phần còn lại của họ: "Mức cạnh tranh tương đối có trật tự, theo đó chủ yếu là các công ty của Úc, New Zealand và Canada cạnh tranh để kinh doanh mà các Công ty Luật của Anh hoặc Mỹ không yêu cầu".

THU NHẬP CỦA LUẬT SƯ:

Cơ cấu tiền lương của Công ty Luật thường phụ thuộc vào quy mô công ty. Mức lương của các công ty nhỏ rất khác nhau giữa các quốc gia và từ quốc gia này sang quốc gia khác, và thường không được công bố rộng rãi. Bởi vì, hầu hết các quốc gia không có nghề luật thống nhất, nên thường có sự chênh lệch đáng kể về thu nhập giữa các nghề luật khác nhau trong một quốc gia cụ thể. Cuối cùng, sự sẵn có của dữ liệu tiền lương cũng phụ thuộc vào sự tồn tại của các nhà báo và nhà xã hội học có thể thu thập và phân tích dữ liệu đó.

1- Thu nhập của Luật sư tại Mỹ:

Mỹ hiện là quốc gia duy nhất có đủ Luật sư, cũng như các nhà báo và nhà xã hội học chuyên nghiên cứu về họ, để có dữ liệu phổ biến rộng rãi về cơ cấu tiền lương tại các Công ty Luật lớn.

Năm 2006, mức lương trung bình của sinh viên mới tốt nghiệp dao động từ 50.000 USD mỗi năm ở các công ty nhỏ (02 đến 10 Luật sư) đến 160.000 USD mỗi năm ở các công ty rất lớn (hơn 501 Luật sư). Việc phân phối các khoản lương này rất đa dạng, với phần lớn các Luật sư mới kiếm được ở mức cao hoặc mức thấp của thang đo, và mức lương trung bình là 62.000 USD.

Vào mùa hè năm 2016, Công ty Luật Cravath, Swaine & Moore ở New York đã tăng mức lương cộng sự năm đầu tiên lên 180.000 USD. Nhiều Công ty Luật quốc gia lớn và cao cấp khác có trụ sở tại New York đã sớm làm theo. Hai năm sau, vào mùa hè năm 2018, Công ty Luật New York Milbankđã tăng mức lương cộng tác viên năm đầu tiên lên 190.000 USD, với các công ty lớn khác theo sau ngay sau đó. Vào năm 2022, Milbank đã tăng mức bồi thường năm đầu tiên lên 215.000 USD, với hầu hết các công ty tương đương đều làm theo.

Mô hình tiền lương truyền thống dành cho các cộng sự của Công ty Luật là bồi thường từng bước, trong đó lương của cộng sự tăng lên một lượng cố định mỗi năm kể từ khi tốt nghiệp trường luật của cộng sự. Tuy nhiên, nhiều công ty đã chuyển sang hệ thống bồi thường dựa trên cấp độ, trong đó các cộng sự được chia thành ba (hoặc đôi khi là bốn) cấp độ dựa trên các kỹ năng thành thạo. Trong năm 2013, mức lương trung bình cho ba cấp cộng tác viên là 152,500 USD, 185,000 USD và 216,000 USD đối với các công ty lớn (hơn 700 Luật sư) và 122,000 USD, 143,500 USD và  160,000 USD đối với tất cả các công ty.

Một số Công ty Luật nổi tiếng, như Goodwin Procter và Paul Hastings, thưởng hào phóng khi ký hợp đồng (ví dụ: 20 nghìn USD) cho các cộng sự mới vào năm nhất có bằng JD/MBA.

Một cách khác để các cộng sự của Công ty Luật tăng thu nhập hoặc cải thiện điều kiện làm việc của họ là thông qua việc chuyển sang một Công ty Luật khác. Một cuộc khảo sát năm 2014 của LexisNexis chỉ ra rằng hơn 95% Công ty Luật được tư vấn có ý định thuê Luật sư bên trong vòng hai năm tới. Mặc dù sự thành công của cả Luật sư và Công ty Luật trong việc tuyển dụng bên đã bị nghi ngờ. Tạp chí Luật Quốc gia đã báo cáo rằng chi phí tuyển dụng, bồi thường và tích hợp Luật sư bên cạnh có thể lên tới 600.000 USD và 60% số người thuê Luật sư bên cạnh không thành công tại các Công ty Luật mới của họ.

2- Thu nhập của Luật sư tại Vương quốc Anh:

Các công ty của Anh thường thực hiện bồi thường theo từng bước. Ở Luân Đôn, mức lương của Luật sư mới bắt đầu (NQ - Mới đủ tiêu chuẩn) thường là: (i) £40.000-70.000 tại các công ty nhỏ và quốc gia, (ii) £80.000-100.000 tại các công ty vòng tròn ma thuật và (iii) £120.000-£ 155.000 tại văn phòng London của các công ty hàng đầu của Mỹ.

Một cộng tác viên cấp cao với sáu năm kinh nghiệm có thể kiếm được 68.000-120.000 bảng Anh tại một công ty quốc gia hoặc lên tới 160.000 bảng Anh tại một công ty toàn cầu. Mức lương thấp hơn ở các khu vực bên ngoài London.

3- Thu nhập của Luật sư Châu Úc:

Úc có sự khác biệt về lương Luật sư theo vùng, với mức lương cao nhất ở Sydney, tiếp theo là Melbourne, Perth, Brisbane, sau đó là Adelaide. Mức lương khác nhau giữa các công ty hàng đầu, cỡ trung bình và nhỏ. Tại các công ty hàng đầu ở Sydney, lương của các Luật sư được nhận vào hành nghề dao động từ 75.000 đến 92.000 USD và các cộng sự kiếm được trung bình 1.215.000 USD.

Tại Sydney, mức lương khởi điểm trung cấp cho Luật sư được nhận vào dao động từ 65.000 USD đến 82.000 USD. Hầu hết các Luật sư Úc không được nhận cho đến khi họ làm việc được mười tháng tại Công ty Luật của họ, vì giai đoạn đầu bao gồm đào tạo pháp lý có giám sát trước khi được nhận.

Thông thường, ở các công ty của Úc, các Luật sư được áp dụng hệ thống khóa trong hai năm đầu tiên hành nghề, sau đó việc tăng lương phụ thuộc vào hiệu suất được đánh giá, phần lớn, thông qua việc đáp ứng các mục tiêu về số giờ có thể lập hóa đơn.

4- Thu nhập của Luật sư Hồng Kông:

Các cộng sự mới đủ điều kiện tại các công ty hàng đầu ở Hồng Kông thường kiếm được từ 840.000 đến 948.000 đô la Hồng Kông, với các đối tác trong khoảng từ 1,6 triệu đô la Hồng Kông đến 04 triệu đô la Hồng Kông; nhiều công ty trả lương cho New York với chi phí sinh hoạt điều chỉnh.

5- Thu nhập của Luật sư Singapore:

Tại các công ty địa phương ở Singapore, các cộng sự trong ba năm đầu tiên của họ thường kiếm được 60.000 đến 100.000 USD, trong khi các cộng sự cấp trung (04 đến 07 năm) kiếm được 110.000 đến 180.000 USD và các cộng sự cấp cao (08 năm trở lên) kiếm được 160.000 USD trở lên. Các công ty quốc tế trả nhiều tiền hơn đáng kể, với các cộng sự cấp cao thường kiếm được hơn 250.000 USD.

6- Thu nhập của Luật sư Ấn Độ:

Có thêm thông tin có sẵn cho các cộng sự cấp nhập cảnh. Các Luật sư năm đầu tiên kiếm được từ 8.000 INR đến 110.000 INR mỗi tháng. Các Công ty Luật cấp 1 cung cấp gói thanh toán tốt nhất, khoảng 15.00.000 INR hàng năm. Có sự khác biệt lớn về mức lương tùy thuộc vào thành phố, Công ty Luật và trường đại học của ứng viên. Mức lương cao hơn ở các thành phố như Mumbai và Delhi so với các thành phố khác như Kolkata, Benaras, Pune, Ahmedabad…

VỊ TRÍ ĐỊA LÝ CỦA CÁC HÃNG LUẬT:

Hầu hết các Công ty Luật đều nằm trong các tòa nhà "văn phòng luật" với nhiều quy mô khác nhau, từ những tòa nhà một tầng khiêm tốn đến một số tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới (mặc dù chỉ đến năm 2004, Paul Hastings mới là công ty đầu tiên ghi tên mình trên tòa nhà chọc trời ).

Vào cuối năm 2001, có thông tin rộng rãi rằng công ty chuyên về thương tích cá nhân của John C. Dearie ở bang New York đang thử nghiệm các "văn phòng luật di động" có kích thước bằng xe buýt. Hãng khẳng định không " đuổi theo xe cứu thương ". Nó tuyên bố rằng một văn phòng luật trên bánh xe thuận tiện hơn cho các nguyên đơn thương tích cá nhân, những người thường đang hồi phục sau những vết thương nặng và do đó khó đi xa nhà để phỏng vấn đầu vào.

BẢNG XẾP HẠNG CÁC HÃNG LUẬT:

Các Hãng Luật được xếp hạng một cách khách quan, chẳng hạn như theo doanh thu, lợi nhuận trên mỗi đối tác và theo chủ quan, bởi các nhà xuất bản và nhà báo pháp lý khác nhau.

Vì thực tiễn pháp lý là đối nghịch, xếp hạng của Công ty Luật được các cộng sự tiềm năng, người thuê bên và khách hàng pháp lý dựa vào rộng rãi. Bảng xếp hạng chủ quan thường bao gồm các lĩnh vực hành nghề như Thẻ điểm Công ty của Luật sư Mỹ và các Công ty Sở hữu trí tuệ hàng đầu.

Xếp hạng nơi làm việc hướng tới các Luật sư hoặc Sinh viên Luật và bao gồm các chủ đề như chất lượng cuộc sống, giờ làm việc, mức độ thân thiện với gia đình và tiền lương.

Cuối cùng, xếp hạng thống kê thường bao gồm các dữ liệu liên quan đến lợi nhuận như lợi nhuận trên mỗi đối tác và doanh thu trên mỗi Luật sư. ​

Các dịch vụ xếp hạng Luật sư bên thứ ba như Chambers and Partners và Martindale-Hubbell thường rất cạnh tranh và có thể giúp nâng cao hồ sơ chuyên nghiệp của từng Luật sư, và để nắm bắt được lợi thế tiếp thị này, hơn 1.200 xếp hạng Luật sư và hoặc giải thưởng đã xuất hiện ở Mỹ tôn vinh các giải thưởng và đã xác định rằng các Luật sư có thể đề cập đến những vinh dự đó trong quảng cáo “chỉ khi cơ sở so sánh có thể được xác minh” và tổ chức cung cấp giải thưởng “đã tiến hành điều tra đầy đủ về tính phù hợp của cá nhân Luật sư”.

Trong một cuộc họp báo tháng 10 năm 2007 được báo cáo trên tờ The Wall Street Journal và The New York Times, nhóm Sinh viên luật Xây dựng nghề luật tốt hơn đã công bố bảng xếp hạng hàng năm đầu tiên về các Công ty Luật hàng đầu theo số giờ trung bình có thể thanh toán, sự tham gia chuyên nghiệp và sự đa dạng về nhân khẩu học.

Đáng chú ý nhất, báo cáo đã xếp hạng tỷ lệ phần trăm phụ nữ, người Mỹ gốc Phi, người gốc Tây Ban Nha, người Mỹ gốc Á và người đồng tính nam & đồng tính nữ tại các Công ty Luật hàng đầu của Mỹ. Nhóm đã gửi thông tin đến các trường luật hàng đầu trên toàn quốc, khuyến khích sinh viên tính đến dữ liệu nhân khẩu học này khi chọn nơi làm việc sau khi tốt nghiệp.

Khi nhiều sinh viên chọn nơi làm việc dựa trên bảng xếp hạng đa dạng của các công ty, các công ty phải đối mặt với áp lực thị trường ngày càng tăng để thu hút những tân binh hàng đầu.

Luật sư Phạm Ngọc Minh - Giám đốc điều hành của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp (từ Wikipedia và một số nguồn khác).

Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn

Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!

Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí

Hoặc
Đăng ký tư vấn
Công ty luật TNHH Everest - Công ty Luật uy tín tại Việt Nam

Everest
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu

Top 20 thương hiệu vàng Việt Nam

Tự hào là đối tác thương hiệu lớn
Video
Everest - Hành trình vượt khó cùng đối tác
Quy định pháp luật về kế toán doanh nghiệp
Gặp các chuyên gia Đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm
Để làm được những điều đó, mỗi một luật sư thành viên thuộc Hãng luật của chúng tôi đều phải rèn luyện không ngừng để có kiến thức Uyên thâm về chuyên môn, luôn đặt Tình yêu và Trách nhiệm vào công việc
4.1 5 (1 đánh giá)
0 bình luận, đánh giá về Hãng Luật (Law Firm)

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận sản phẩm
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.43408 sec| 1219.188 kb