Khái quát chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng với khách hàng

22/02/2023
Tổ chức tín dụng thỏa thuận mua giấy tờ có giá của khách hàng trước hạn thanh toán trong trường hợp giấy tờ có giá đã chiết khấu một lần tại tổ chức tín dụng nhưng sau đó được tổ chức tín dụng này đem chiết khấu lại tại các tổ chức tín dụng khác hoặc tại ngân hàng trung ương thì nghiệp vụ này được gọi là tái chiết khấu. Như vậy, nghiệp vụ chiết khấu là giao dịch mua bán lần đầu các giấy tờ có giá giữa tổ chức tín dụng với khách hàng là tổ chức, cá nhân; còn nghiệp vụ tái chiết khấu chính là giao dịch mua, bán lại các giấy tờ có giá đã được chiết khấu một lần theo phương thức mua đứt, bán đoạn tại tổ chức tín dụng và giao dịch này chỉ phát sinh giữa các tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa tổ chức tín dụng với ngân hàng trung ương. Về đặc điểm của hoạt động này cũng được nêu rõ tại các vấn đề như chủ thể, hình thức pháp lý, quy trình nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá... để hiểu rõ hơn việc chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng với khách hàng.

I- Khái niệm chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

Trong lĩnh vực ngân hàng, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá thường được biết đến với hai loại hình nghiệp vụ có mục đích khác nhau, do hai loại chủ thể khác nhau thực hiện, đó là:
a) Nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá do ngân hàng trung ương thực hiện đối với khách hàng là tổ chức tín dụng;
b) Nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng thực hiện đối với khách hàng là tổ chức, cá nhân.
Trong loại hình nghiệp vụ thứ nhất, ngân hàng trung ương thực hiện việc chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng là nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Còn trong loại Trong khuôn khổ của chương này, phạm vi nghiên cứu chỉ bao gồm nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá (bao gồm công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác) của tổ chức tín dụng đối với khách hàng là tổ chức, cá nhân, với tính cách là loại hình hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận.
Vậy, thế nào là chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng đối với khách hàng?

Chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (sau đây xin gọi là chiết khấu giấy tờ có giá) là nghiệp vụ tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận mua giấy tờ có giá của khách hàng trước hạn thanh toán Trong trường hợp giấy tờ có giá đã chiết khấu một lần tại tổ chức tín dụng nhưng sau đó được tổ chức tín dụng này đem chiết khấu lại tại các tổ chức tín dụng khác hoặc tại ngân hàng trung ương thì nghiệp vụ này được gọi là tái chiết khấu.
Như vậy, điểm khác nhau cơ bản giữa nghiệp vụ chiết khấu với nghiệp vụ tái chiết khấu chính là ở chỗ nghiệp vụ chiết khấu là giao dịch mua bán lần đầu các giấy tờ có giá giữa tổ chức tín dụng với khách hàng là tổ chức, cá nhân; còn nghiệp vụ tái chiết khấu chính là giao dịch mua, bán lại các giấy tờ có giá đã được chiết khấu một lần theo phương thức mua đứt, bán đoạn tại tổ chức tín dụng và giao dịch này chỉ phát sinh giữa các tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa tổ chức tín dụng với ngân hàng trung ương.

Khởi thuỷ, hoạt động chiết khấu của các ngân hàng chủ yếu nhằm vào đối tượng là các thương phiếu do các thương nhân sở hữu. Đây cũng là cách để các ngân hàng có thể tài trợ vốn cho giới thương nhân trong các thương vụ buôn bán, nhất là các thương vụ quốc tế. Cùng với thời gian, sự phát triển đa dạng của các loại giấy tờ có giá trong đời sống dân sự và thương mại đã khiến cho đối tượng chiết khấu tại ngân hàng cũng ngày càng trở nên đa dạng hơn.

Ngày nay, hoạt động chiết khấu của các ngân hàng trên thế giới đều hướng tới việc mua bán các loại giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán ngắn (dưới 1 năm) như hối phiếu, tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu... do các tổ chức, cá nhân hoặc Chính phủ phát hành và đang được phép lưu thông trên thị trường. Vì thế, chiết khấu giấy tờ có giá đã trở thành hình thức tín dụng hỗ trợ đắc lực cho các nhà kinh doanh trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình.

- Xét từ góc độ kinh tế, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng có bản chất là nghiệp vụ tín dụng, bởi vì, khi chiết khấu giấy tờ có giá của khách hàng, tổ chức tín dụng
phải ứng trước cho khách hàng số tiền nhất định để họ sử dụng. Sau thời hạn nhất định, tổ chức tín dụng đòi lại số tiền này từ người có nghĩa vụ trả nợ theo giấy tờ có giá, với tư cách là chủ sở hữu mới của giấy tờ có giá. Với các thuộc tính này, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng chẳng khác nào một nghiệp vụ tín dụng truyền thống, với đầy đủ các thuộc tính vốn có của hoạt động tín dụng như sự ứng trước và sự hoàn trả một số tiền nhất định; sự tín nhiệm của người cho vay đối với người đi vay và cam kết trả lãi cho việc sử dụng vốn của tổ chức tín dụng.    

- Xét ở góc độ pháp lí, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng có bản chất là hợp đồng mua bán giấy tờ có giá, với đầy đủ các thuộc tính của hợp đồng mua bán như: các chủ thể tham gia gồm bên bán và bên mua; đối tượng mua bán là giấy tờ có giá được chiết khấu; giá cả mua bán là số tiền mà tổ chức tín dụng phải trả cho khách hàng sau khi đã khấu trừ đi phần lợi tức chiết khấu; có thỏa thuận chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá từ người bán (khách hàng) sang cho người mua (tổ chức tín dụng nhận chiết khấu).
Tóm lại, có thể nhận thấy rằng về bản chất, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng vừa là quan hệ tín dụng (bản chất kinh tế), vừa là quan hệ hợp đồng mua bán giấy tờ có giá (bản chất pháp lí). Điều này có ý nghĩa quyết định đến quy trình thực hiện nghiệp vụ chiết khấu cũng như nội dung quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ chiết khấu giấy tờ có giá giữa tổ chức tín dụng với khách hàng.

II- Đặc điểm của hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

Với tư cách là nghiệp vụ tín dụng, đồng thời là giao dịch mua bán giấy tờ có giá, hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng đối với khách hàng có những đặc điểm cơ bản sau đây:

1- Về chủ thể

Bên cung ứng tín dụng là tổ chức tín dụng nhận chiết khấu và bên thụ hưởng tín dụng là khách hàng xin chiết khấu nhưng nghĩa vụ hoàn trả tiền vay lại được chuyển giao cho người thứ ba (chính là người mắc nợ theo giấy tờ có giá) thực hiện. Sở dĩ tổ chức tín dụng nhận chiết khấu trở thành bên có quyền (bên thế quyền) yêu cầu trả tiền đối với người mắc nợ theo giấy tờ có giá là bởi vì, khi khách hàng làm thủ tục chuyển quyền sở hữu giấy tờ có giá cho tổ chức tín dụng thì cũng chính là việc chuyển giao quyền yêu cầu - quyền chủ nợ cho người thế quyền là tổ chức tín dụng. Việc chuyển giao quyền yêu cầu được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật dân sự.

2- Về hình thức pháp lí

Tuy cũng là một nghiệp vụ tín dụng nhưng hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được thực hiện thông qua hình thức pháp lí là hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, chứ không phải là hợp đồng tín dụng (giống như trong nghiệp vụ cho vay). Hợp đồng này không giống với hợp đồng tín dụng trong nghiệp vụ cho vay thông thường mà thực chất nó giống như hợp đồng mua bán giấy tờ có giá, nghĩa là có bên bán và bên mua cùng với thỏa thuận chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá từ người bán sang cho người mua.

3- Về quy trình nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá

Ngoài thủ tục thẩm định hồ sơ chiết khấu (giống như thủ tục thẩm định hồ sơ tín dụng trong nghiệp vụ cho vay thông thường), khách hàng được chiết khấu còn phải làm thêm thủ tục chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho người mua là tổ chức tín dụng để được nhận khoản tiền bán giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng thanh toán. Có thể nhận thấy trình tự này là sự kết hợp giữa kỹ thuật nghiệp vụ tín dụng (được thể hiện ở thủ tục thẩm định hồ sơ chiết khấu của khách hàng) với kỹ thuật pháp lí trong hợp đồng mua bán giấy tờ có giá (được thể hiện ở thủ tục chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho người mua và thanh toán tiền mua giấy tờ có giá cho người bán). Chính sự kết hợp này đã tạo ra nét đặc trưng cho hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, so với các loại hình hoạt động tín dụng khác của tổ chức tín dụng như hoạt động cho vay, hoạt động bảo lãnh ngân hàng và hoạt động cho thuê tài chính...

4- Về đối tượng chiết khấu

Theo thông lệ quốc tế, chỉ các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán ngắn hạn (dưới 1 năm) mới có thể là đối tượng chiết khấu tại tổ chức tín dụng. 
Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là bởi vì, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá vốn dĩ là nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ này thường có độ rủi ro cao cho lợi ích của tổ chức tín dụng nên pháp luật cần hạn chế đối tượng của giao dịch chiết khấu, chỉ bao gồm các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán ngắn. Quy định này nhằm tránh cho tổ chức tín dụng những rủi ro không đáng có trong quá trình cấp tín dụng bằng hình thức chiết khấu giấy tờ có giá của khách hàng.
Ngày nay, các loại giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán ngắn được tổ chức tín dụng chấp nhận chiết khấu bao gồm hối phiếu, séc, tín phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng nhà nước, các khế ước cho vay ngắn hạn, trái phiếu, kỳ phiếu... nhưng phổ biến hơn cả vẫn là các hối phiếu. Sở dĩ việc chiết khấu hối phiếu trở nên thông dụng trên thế giới là bởi vì, luật về hối phiếu (bao gồm luật quốc tế và luật quốc gia) thường cho phép tổ chức tín dụng có quyền truy đòi đối với khách hàng xin chiết khấu nếu đến hạn mà hối phiếu không được thanh toán bởi người mắc nợ theo hối phiếu. Quy định đặc thù này của pháp luật về hối phiếu nhằm tạo ra sự an toàn cao cho quyền lợi của người sở hữu hối phiếu và nhờ đó cũng làm tăng khả năng lưu thông của hối phiếu trên thị trường tiền tệ. Điều này khiến cho việc chiết khấu hối phiếu đã trở thành một trong số các nghiệp vụ tín dụng có rất ít rủi ro và rất được các tổ chức tín dụng ưa chuộng.

5- Về giá bán của giấy tờ có giá

Mặc dù về nguyên tắc các bên tham gia hợp đồng chiết khấu có quyền thỏa thuận với nhau về giá bán nhưng trên thực tế, giá bán của giấy tờ có giá bao giờ cũng thấp hơn giá trị của giấy tờ có giá được mua bán. Sở dĩ như vậy lả vì khi chấp nhận chiết khấu giấy tờ có giá của khách hàng trước hạn thanh toán, tổ chức tín dụng là người mua còn phải chờ đợi thêm một thời gian nữa mới có thể đòi tiền của người mắc nợ theo giấy tờ có giá. Nói khác đi, khi chấp nhận chiết khấu giấy tờ có giá của khách hàng, tổ chức tín dụng đã tự nhận lấy về mình các rủi ro phát sinh bởi giấy tờ có giá không được thanh toán mà đáng lẽ rủi ro này thuộc về người sở hữu trước đó của giấy tờ có giá, do vậy họ cần phải được đền đáp bằng khoản tiền chênh lệch giữa mệnh giá của giấy tờ có giá và giá bán thực tế. Khoản tiền chênh lệch này được gọi là lợi tức chiết khấu - thu nhập của tổ chức tín dụng trong hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá.

6- Về luật áp dụng

Do hoạt động chiết khấu vừa là nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá, đồng thời còn là nghiệp vụ tín dụng của tổ chức tín dụng nên hoạt động này ngoài việc tuân thủ các quy tắc chung về hợp đồng mua bán giấy tờ có giá còn phải chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật về hoạt động ngân hàng.

0 bình luận, đánh giá về Khái quát chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng với khách hàng

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.23232 sec| 991.734 kb