Một số vấn đề pháp lý về Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty

23/02/2023
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, doanh nghiệp cũng ngày càng lớn mạnh. Trên thế giới bắt đầu xuất hiện những Tập đoàn kinh tế, tổng công ty như Apple hay nước ta có tập đoàn Vingroup . Đây là một mô hình doanh nghiệp lớn, tập hợp quy mô lớn, đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực hoạt động. Việc thành lập các tập đoàn kinh tế, tổng công ty cần phải tuân theo những quy định của pháp luật hiện hành.

I- KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ, TỔNG CÔNG TY 

1- Khái niệm tập đoàn kinh tế, tổng công ti

Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty ngày nay đã phát triển lớn mạnh về quy mô, đa dạng về ngành nghề, phức tạp về cơ cấu tổ chức và địa bàn hoạt động tại nhiều quốc gia khác nhau. Xét từ góc độ quản trị, kinh tế có thể có khái niệm tập đoàn kinh tế, tổng công ty như sau:

“Tập đoàn kinh tế, tổng công ty là một tố tập hợp quỵ mô lớn, thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực trên cơ sở liên kết hình thành từ hoạt động đầu tư, góp vẻn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại, các liên kết kinh doanh nhằm tích tụ, tập trung nguồn lực để tăng khả năng cạnh tranh, tối đa hoá lợi nhuận”.

Xét về bản chất pháp lí, tập đoàn kinh tế, tổng công ty được hình thành từ sự liên kết của các chủ thể kinh doanh, những liên kết này được hình thành từ hoạt động đầu tư và trong những hợp đồng liên kết. Các hình thức liên kết trong tập đoàn kinh tế rất phức tạp, tương ứng với mỗi hình thức liên kết là một loại hợp đồng như: hợp đồng góp vốn, hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu công nghiệp, hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, V.V.. Quá trình thành lập tập đoàn kinh tế, tổng công ty là một quá trình tự nhiên trên cơ sở quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng. Từ góc độ pháp lí, có thể định nghĩa tập đoàn kinh tế, tổng công ty như sau:

“Tập đoàn kinh tế, tồng công ty là một tổ hợp liên kết giữa các pháp nhân độc lập trên cơ sở hoạt động đầu tư và thỏa thuận trong hợp đồng liên kết. Hoạt động đầu tư và thỏa thuận trong hợp đồng liên kết tạo lập quyền và nghĩa vụ cho mỗi thành viên trong tập đoàn, trong đó có những pháp nhân giữ quyền chỉ phối, những pháp nhân bị chì phối và những pháp nhân không bị chỉ phối”.

2- Đặc điểm pháp lí của tập đoàn kinh tế, tổng công ty

Thứ nhất, tập đoàn kinh tế, tống công ty được hình thành từ liên kết giữa các chủ thể kỉnh doanh độc lập tạo thành một tập hợp

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty được hình thành trên cơ sở liên kết giữa các pháp nhân. Pháp nhân thành viên tập đoàn, tổng công ty có thể là pháp nhân thương mại hoặc pháp nhân phi thương mại. Trong đó, pháp nhân thương mại là các công ty hoạt động dưới mô hình công ty TNHH, CTCP; pháp nhân phi thương mại là các cơ sở nghiên cứu, đào tạo hoặc thực hiện các nhiệm vụ xã hội của tập đoàn, tổng công ty. Liên kết giữa các pháp nhân trong tập đoàn, tổng công ty được quy định tại các hợp đồng liên kết.

Liên kết giữa các thành viên trong tập đoàn, tổng công ty hoàn toàn khác với liên kết giữa các thành viên trong công ty. Liên kết giữa các thành viên trong công ty là liên kết hình thành từ quan hệ đầu tư góp vốn để trở thành đồng sở hữu chung của công ty, giữa các thành viên có mối quan hệ chặt chẽ, hoàn toàn độc lập về tư cách pháp lí, quản lí và điều hành. Tính trách nhiệm của các thành viên trong công ty được cá biệt hoá, các thành viên được tham gia quản lí, điều hành công ty ở mức độ tương ứng với tỉ lệ vốn góp vào công ty. Liên kết giữa các thành viên trong tập đoàn, tổng công ty được hình thành trên cơ sở đầu tư vốn trực tiếp từ thành viên này vào thành viên khác hoặc việc cùng sở hữu, sử dụng chung các đối tượng sở hữu công nghiệp hay nằm trong một chuỗi kinh doanh. Các thành viên trong tập đoàn độc lập về mặt pháp lí, tự chịu trách nhiệm với hoạt động kinh doanh của mình, tuy nhiên các thành viên có thể chi phối lẫn nhau trong hoạt động kinh doanh. Các thành viên trong tập đoàn, tổng công ty không

chịu trách nhiệm cho hoạt động kinh doanh chung của tập đoàn, tổng công ty và cũng không chịu trách nhiệm trong trường hợp một thành viên khác của tập đoàn làm ăn thua lỗ phá sản. Thành viên trong tập đoàn ràng buộc trách nhiệm trực tiếp với nhau thông qua hợp đồng liên kết. Mối liên kết giữa các thành viên trong tập đoàn có thể chi phối hoặc những liên kết không mang tính chi phối.

Thứ hai, tập đoàn kỉnh tế, tống công tỉ là tồ hợp có danh tính và không có tư cách pháp nhân

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty là một tổ hợp có danh tính, danh tính của tập đoàn kinh tế, tổng công ty để chỉ một tập hợp các pháp nhân độc lập, hoạt động trên cơ sở liên kết chặt chẽ vì lợi ích kinh tế. Danh tính của tập đoàn kinh tế, tổng công ty để phân biệt giữa một tập hợp pháp nhân với các pháp nhân trong tập đoàn và phân biệt với tập hợp pháp nhân khác. Danh tính của tập đoàn, tổng công ty là một quyền tài sản, được xác định là một tên thương mại, là cơ sở để xây dựng hệ thống nhãn hiệu tập đoàn. Các pháp nhân độc lập trong tập đoàn có quyền thụ hưởng giá trị tên thương mại, nhãn hiệu và phải trả phí.

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty không có tư cách pháp nhân khi xem xét theo nhiều góc độ và học thuyết khác nhau: (i) Tập đoàn kinh tế, tổng công ty không có tài sản độc lập. Đặc trưng của pháp nhân là phải sở hữu một tài sản độc lập và sử dụng những lợi ích từ tài sản của mình để thực hiện các mục đích của pháp nhân (đối với các pháp nhân kinh doanh đó là mục đích sinh lời). Tài sản của pháp nhân còn là cơ sở để pháp nhân gánh chịu các rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện ý chí của pháp nhân. Sản nghiệp được thiết lập bằng những tài sản do thành viên của pháp nhân đóng góp thông qua việc thực hiện chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho pháp nhân. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty được hình thành từ sự liên kết của các pháp nhân độc lập nhưng không xuất phát từ việc thực hiện góp vốn chung. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty không tiếp nhận sự chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn từ các pháp nhân thành viên, do đó không hình thành tài sản riêng. Nhằm duy trì hoạt động điều hành tại tập đoàn kinh tế, tổng công ty, các pháp nhân thành viên thực hiện nghĩa vụ đóng góp tài chính hoặc pháp nhân chi phối tập đoàn trích một phần lợi nhuận để chi trả các chi phí có liên quan. Nguồn tài chính này là càn thiết để đảm bảo bộ máy quản trị thực hiện các trách nhiệm cần thiết trong hoạt động quản lí tập đoàn. Tuy nhiên, sự đóng góp hoặc trích lập quỹ này không làm hình thành sản nghiệp riêng cho tập đoàn kinh tế, tổng công ty, mà thông thường pháp nhân có khả năng chi phối trong tập đoàn, tổng công ty sẽ thực hiện việc tiếp nhận các khoản đóng góp và chi trả để duy trì bộ máy điều hành cho tập đoàn, tổng công ty. (ii) Tập đoàn kinh tế, tổng công ty không có năng lực pháp lí. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty là tập hợp của nhiều pháp nhân, mỗi pháp nhân là một chủ thể pháp lí với năng lực pháp lí đầy đủ, nhân danh chính mình thực hiện các quan hệ pháp luật. Sự tập hợp của các pháp nhân trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty không hướng đến việc hình thành một tổ chức kinh tế mới tham gia thị trường mà thực hiện quá trình liên kết nhằm tối đa hoá lợi ích của từng pháp nhân kinh doanh độc lập. Do đó, tập đoàn kinh tế, tổng công ty không có năng lực pháp luật của một chủ thể pháp lí thông thường, cũng không cần đến sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về “sự ra đời” của mình, từ đó không có năng lực hành vi để thực hiện các hoạt động nhân danh tập đoàn. Sự vận động của tập đoàn kinh tế, tổng công ty chính là sự vận động của các pháp nhân độc lập trong tập đoàn. Thông thường, pháp nhân chi phối tập đoàn tiến hành giao dịch nhân danh chính mình để thực hiện giao dịch với danh nghĩa tập đoàn phù hợp với nhu cầu quản lí, phát triển kinh doanh của tập đoàn, (iii) Tập đoàn kinh tế, tổng công ty không chịu trách nhiệm tài sản. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty không có tài sản riêng, không thể chịu trách nhiệm tài sản. Mặt khác, tập đoàn kinh tế, tổng công ty không có năng lực pháp lí, không nhân danh chính mình thực hiện các giao dịch dân sự hay thương mại. Vì vậy, tập đoàn kinh tế, tổng công ty không chịu trách nhiệm tài sản đối với các nghĩa vụ pháp lí phát sinh từ hoạt động của mình, đồng thời cũng không chịu trách nhiệm pháp lí thay cho các pháp nhân thành viên. Trong trường hợp phát sinh các nghĩa vụ pháp lí từ giao dịch, pháp nhân chi phối chịu trách nhiệm bằng tài sản độc lập của pháp nhân đó.

Thứ ba, tập đoàn kinh tế có cơ cấu tổ chức phức tạp, nhiều cấp

Cơ cấu tổ chức tập đoàn nhằm giải quyết hài hoà mối quan hệ về lợi ích giữa các công ty trong tập đoàn, tổng công ty. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty chỉ có thể phát triển được khi có một cơ cấu tổ chức hợp lí, để các bánh xe trong tập đoàn vận hành đồng bộ, có hiệu quả. Cơ cấu tổ chức tập đoàn phải xác định cụ thể vấn đề quyền hạn, trách nhiệm, phân cấp quản lí. Đây là một yêu cầu phức tạp, vì các công ty trong tập đoàn, tổng công ty tương đối độc lập, mỗi công ty có một cơ cấu quản lí riêng. Các công ty trong tập đoàn, tổng công ty liên kết với nhau trên cơ sở quan hệ về vốn, quan hệ quản lí hoặc thông qua hợp đồng kinh tế, do đó việc xây dựng thống nhất một cơ cấu quản lí là đòi hỏi không dễ thực hiện trong tập đoàn. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty thường hoạt động theo mô hình công ty mẹ, công ty con. Tùy thuộc vào số lượng thành viên, mô hình tập đoàn kinh tế, tổng công ty có thể đơn giản hoặc phức tạp.

Mô hình 1: cấu trúc đơn giản (Mô hình đầu tư đơn cấp). Tập đoàn có mô hình cấu trúc đơn giản bao gồm công ty mẹ hình thành liên kết để chi phối với các công ty con ở tầng thứ hai, sau đó các công ty con ở tầng thứ hai lại hình thành liên kết để chi phối của các công ty con ở tầng thứ ba và tiếp tục ở các tầng tiếp theo. Các công ty đồng cấp không hình thành liên kết để chi phối nhau, các công ty ở cấp dưới không hình thành liên kết để chi phối các công ty cấp trên. Mô hình này đảm bảo quyền lực được thực hiện theo trình tự từ trên xuống, quyền lực tập trung ở công ty mẹ của tập đoàn, tổng công ty.

Mô hình 2: cấu trúc đầu tư đa cấp đơn giản. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty có mô hình cấu trúc đa cấp, công ty mẹ có thể hình thành liên kết chi phối với công ty con cấp hai, đồng thời trực tiếp hình thành liên kết chi phối với công ty con ở cấp ba, cấp bốn, V.V.. Các công ty đồng cấp không hình thành liên kết để chi phối nhau, các công ty ở cấp dưới không hình thành liên kết để chi phối các công ty cấp trên. Mô hình này tạo cho công ty mẹ của tập đoàn nhiều lựa chọn hơn về phương thức đầu tư và quản lí dòng vốn, tuy nhiên công ty mẹ thường gặp nhiều khó khăn trong: hoạt động điều hành tập đoàn; phân định quyền năng, lĩnh vực của công ty con; giảm thiểu thiệt hại do cạnh tranh trong nội bộ tập đoàn.

Mô hình 3: cấu trúc đầu tư đa cấp sở hữu chéo. Đây là mô hình tập đoàn kinh tế, tổng công ty rất phức tạp, theo đó các công ty đồng cấp có thể hình thành liên kết để chi phối lẫn nhau, các công ty cấp dưới có thể hình thành liên kết để chi phối các công ty cấp trên. Nhiều công ty cùng nhau hình thành liên kết để chi phối

một công ty khác trong tập đoàn. Mô hình này cho phép hình thành một tập đoàn có liên kết chặt chẽ, nhưng rất khó quản lí điều hành, khó kiểm soát rủi ro, vì trong một số trường hợp không xác định được công ty mẹ chi phối tập đoàn là công ty nào và không xác định được chính xác dòng tiền để có những biện pháp giảm thiểu những nguy cơ.

Thứ tư, tập đoàn kỉnh tế, tổng công tì lớn về quy mô, sử dụng nhiều lao động, phạm vi hoạt động rộng, kỉnh doanh đa ngành

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty có sự tích tụ về vốn của các công ty trong tập đoàn, bao gồm công ty mẹ, các công ty con, công ty thành viên, công ty liên kết. Quy mô vốn của tập đoàn, tổng công ty được hình thành từ một quá trình tích tụ lâu dài, thông qua hoạt động thu hút nhà đầu tư và thực hiện có hiệu quả các hoạt động kinh doanh. Quy mô vốn lớn tạo ra cho tập đoàn, tổng công ty năng lực cạnh tranh hiệu quả, phát triển đầu tư công nghệ, chuyên môn hoá sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hoá, giảm giá thành, gia tăng lợi nhuận, tạo động lực thúc đẩy quá trình phát triển của từng công ty trong tập đoàn, tổng công ty nói riêng và toàn bộ tập đoàn, tổng công ty nói chung.

Ví dụ: Tập đoàn Samsung Electronic (Hàn Quốc) có tổng số tài sản 202,8 tỉ USD; Tập đoàn Royal Dutch Shell (Tập đoàn dầu khí hoàng gia Hà Lan) có tổng số tài sản 357,5 tỉ ƯSỮ; Tập đoàn Toyota (Nhật Bản) có tổng tài sản 402,4 tỉ USD; Tập đoàn General Electric (Hoa Kỳ) có tổng tài sản 646,6 tỉ USD. Tại Việt Nam, các tập đoàn kinh tế có quy mô tương đối lớn: Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam với quy mô vốn khoảng 178 nghìn tỉ đồng; Tập đoàn Điện lực Việt Nam với quy mô 110 nghìn tỉ đồng; Tập đoàn vàng bạc đá quý Doji với quy mô vốn khoảng 11 nghìn tỉ đồng; Tập đoàn FPT với quy mô khoảng 3.400 tỉ đồng;[I] V.V..

Tập đoàn, tổng công ty tập trung lực lượng lao động quy mô lớn, do các công ty thành viên trong tập đoàn hoạt động thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, lực lượng lao động được phân hóa, từ lao động đơn giản tới lao động bằng tri thức sáng tạo, từ trình độ chuyên môn trung bình đến trình độ chuyên môn cao. Nhu cầu nhân lực trong tập đoàn lớn, quy trình tuyển chọn và đào tạo được thực hiện nghiêm túc. Tập đoàn khi tiến hành hoạt động đầu tư tại các quốc gia đều hỗ trợ giải quyết vấn đề việc làm và nâng cao trình độ nguồn nhân lực tại quốc gia tiếp nhận đầu tư.

Ví dụ: Tập đoàn Toyota đang sử dụng 325.000 nhân viên, tập đoàn State Grid (Trung Quốc) đang sử dụng 1.583.000 nhân viên, Tập đoàn bán lẻ Wal-mart (Mỹ) đang sử dụng 2,2 triệu nhân viên.[II] Tại Việt Nam, theo thông tin từ website chính thức của các tập đoàn kinh tế, số lượng cán bộ công nhân viên đang làm việc trong Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam là 110.000; trong Tập đoàn Điện lực là 105.000; Tập đoàn FPT là 17.410 nhân viên (trong đó 6.500 kĩ sư, lập trình viên); Tập đoàn Vinamilk là 62.000 nhân viên.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, xu thế hội nhập, mở cửa, ưu đãi đầu tư, tập đoàn đã mở rộng phạm vi hoạt động từ một quốc gia, sang nhiều quốc gia khác nhau, trở thành các tập đoàn đa quốc gia. Các tập đoàn kinh tế đã tiến hành đầu tư sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phân công lao động, phát huy lợi thế cạnh tranh ở các khu vực khác nhau. Các tập đoàn đa quốc gia gây sức ép cạnh tranh không nhỏ cho các doanh nghiệp nội địa. Những tập đoàn như Walmart, Toyota, Samsung, Apple, BP, Unilever V.V.. đã vươn dài cánh tay đi khắp các thị trường trên thế giới để khai thác những ưu điểm của những thị trường mới nổi này.

Hầu hết các tập đoàn kinh tế, tổng công ty đều hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực trong đó có một số ngành nghề kinh doanh mang tính mũi nhọn. Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty trải qua một quá trình phát triển từ ngành nghề kinh doanh chiến lược sau một thời gian phất triển thành các tập đoàn kinh tế, tổng công ty đa ngành. Mỗi tập đoàn, tổng công ty đều có ngành nghề, lĩnh vực chủ đạo với những sản phẩm có thương hiệu đặc trưng của tập đoàn. Bên cạnh những công ty sản xuất kinh doanh tại ngành nghề chủ đạo, tập đoàn kinh tế, tổng công ty còn bao gồm: những công ty kinh doanh lĩnh vực đầu tư chiến lược mới; những tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm phục vụ nhu cầu nguồn vốn cho tập đoàn; các công ty kinh doanh thương mại, dịch vụ, nghiên cứu, đào tạo phục vụ hoạt động tập đoàn. Tập đoàn thực hiện hoạt động đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực với mục tiêu phân tán rủi ro, bảo đảm cho hoạt động của tập đoàn có tính bền vững và hiệu quả, đồng thời tận dụng được cơ sở vật chất và khả năng lao động phong phú của tập đoàn.

Ví dụ: Tập đoàn Samsung của Hàn Quốc hoạt động ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau: lĩnh vực điện tử với công ty Samsung Electronics (công ty điện tử lớn thứ tư thế giới), lĩnh vực xây dựng với công ty Samsung Engineering và Samsung C&T (nằm trong tốp 50 công ty xây dựng lớn nhất thế giới), lĩnh vực đóng tàu với công ty Samsung Heavy Industries (nằm trong tốp 5 công ty đóng tàu lớn nhất thế giới), lĩnh vực bảo hiểm với công ty Samsung Life Insurance, ngoài ra Samsung còn thực hiện đầu tư ở những lĩnh vực như công viên vui chơi, quảng cáo, hàng không vũ trụ, thiết bị giám sát.[III] Tập đoàn Sumitomo của Nhật Bản thực hiện kinh doanh ở rất nhiều ngành nghề kinh doanh khác nhau: xây dựng, tài chính, bảo hiểm, bất động sản, máy móc, vũ khí, khai khoáng, điện tử, xi măng, thép, thủy tinh, lốp, cao su, hoá chất. Các tập đoàn kinh tế Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế. Các tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam cũng hoạt động kinh doanh mang tính đa ngành. Ví dụ, Tập đoàn vàng bạc đá quý Doji với ngành nghề kinh doanh chính là lĩnh vực khai thác và chế tác vàng, bạc, đá quý, vẫn thực hiện hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, trung tâm thương mại (Ruby Plaza), nhà hàng khách sạn (Mai Ngọc, Akari Moon). Tuy nhiên đối với các tập đoàn kinh tế nhà nước tính đa dạng ngành nghề có ít nhiều hạn chế, do chủ trương của Nhà nước chỉ đầu tư những ngành nghề kinh doanh chủ yếu của tập đoàn: Tập đoàn dầu khí Việt Nam lĩnh vực kinh doanh chủ yếu thăm dò, khai thác dầu khí, bên cạnh đó kinh doanh những sản phẩm chế biến dầu khí (phân bón, điện năng, năng lượng tái tạo).1 Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực khai khoáng, bên cạnh đó là những ngành nghề kinh doanh có liên quan trực tiếp (điện năng, cơ khí, vật liệu xây dựng).[4] [5]

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty thực hiện hoạt động đầu tư quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, lợi thế cạnh tranh tốt, trình độ quản lý cao, tối đa hóa lợi nhuận, do đó, tập đoàn có khả năng đạt được doanh thu lớn và ổn định. Các công ty trong tập đoàn cũng được hưởng lợi từ sự phát triển chung của tập đoàn. Khi tập đoàn phát triển, các công ty cung ứng dịch vụ cho tập đoàn cũng có nguồn thu nhập ổn định, sinh lời hiệu quả.

3- Các hình thức liên kết trong tập đoàn kỉnh tế, tổng công ty

Thứ nhất, liên kết về von trong tập đoàn kinh tế, tống công tỉ

Liên kết vốn là hình thức liên kết chủ yếu trong các tập đoàn kinh tế, tổng công ty tại Việt Nam. Liên kết vốn trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty được hình thành từ quá trình đầu tư của công ty này nhằm sở hữu cổ phần, phần vốn góp trong công ty khác. Hoạt động đầu tư bao gồm góp vốn thành lập công ty, mua, nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp trong công ty. Liên kết vốn thường mang tính chi phối mạnh và là liên kết chủ yếu của mô hình công ty mẹ - công ty con trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty.

Thứ hai, liên kết về quyền sở hữu công nghiệp trong tập đoàn kinh tế, tổng công ti

Có hai hình thức liên kết quyền sở hữu công nghiệp trong tập đoàn kinh tế đó là: (i) liên kết giữa các đồng sở hữu chung quyền sở hữu công nghiệp; (ii) liên kết giữa công ty sở hữu quyền sở hữu công nghiệp và công ty được chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Liên kết giữa các đồng sở hữu chung quyền sở hữu công nghiệp được hình thành khi các công ty cùng nhau thực hiện việc nghiên cứu thành công, các công ty cùng nhau đãng kí và thực hiện các hoạt động pháp lí nhằm bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp. Giữa các công ty hình thành mối quan hệ chặt chẽ để cùng nhau thụ hưởng những lợi ích từ quyền sở hữu công nghiệp và xây dựng cơ chế để bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đó. Liên kết giữa công ty sở hữu quyền sở hữu công nghiệp và công ty nhận chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp được hình thành trên cơ sở hợp đồng chuyển giao đối tượng quyền sở hữu công nghiệp.

Thứ ba, liên kết về thị trường trong tập đoàn kỉnh tế, tống công ty

Liên kết thị trường trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa các công ty độc lập nằm trong các khâu trong quá trình sản xuất (theo chiều dọc) và trên cùng thị trường liên quan (theo chiều ngang). Liên kết thị trường trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty có tính bền vững, lâu dài, các công ty trong liên kết hoạt động kinh doanh độc lập nhưng vẫn tuân thủ những lợi ích chung của toàn bộ tập đoàn. Trong liên kết có công ty giữ quyền chi phối, công ty này thực hiện việc phân chia thị trường cho các công ty còn lại trong liên kết.

Thứ tư, liên kết kinh doanh tạo thành tổ hợp kinh doanh trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty

Hình thức liên kết kinh doanh tạo thành tổ họp là hình thức liên kết giữa các công ty về nhãn hiệu (Co-branding), về địa điểm kinh doanh (Co-Locatyon) để tạo thành một sản phẩm hoặc một hệ thống cung cấp dịch vụ. Những liên kết kinh doanh tạo thành tổ hợp đòi hỏi mức độ phức tạp và bền vững trong liên kết. Đây không phải dạng liên kết theo vụ việc, mà sự liên kết ở đây có tính chất lâu dài, quyền lợi của các bên bị chi phối lẫn nhau, từ đó tạo nên tính ổn định và bền vững của liên kết.

Thứ năm, một số hình thức liên kết khác trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty

(i) Liên kết thông qua quyền khai thác tài nguyên, công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty được nhà nước cấp giấy phép khai thác tài nguyên, công ty mẹ giao cho các công ty con kí kết hợp đồng nhận thầu khai thác cho công ty mẹ. Công ty mẹ sử dụng quyền khai thác tài nguyên để chi phối hoạt động của công ty con.

(ii) Liên kết thông qua việc công ty mẹ nắm giữ thị trường của công ty thành viên, công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty nắm giữ hầu như toàn bộ thị trường của công ty con. Theo đó, hầu hết những sản phẩm dịch vụ của công ty con cung ứng đều cung

ứng cho công ty mẹ.

4- Phân loại tập đoàn kinh tế, tổng công ty

Dựa trên nguyên nhân hình thành liên kết có thể chia mô hình tập đoàn kinh tế, tổng công ty thành 02 loại cơ bản: Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và tập đoàn kinh tế, tồng công ty tư nhân.

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước được hình thành bằng quyết định hành chính. Quá trình hình thành liên kết không xuất phát từ nhu cầu phát triển mà do sự kết hợp cơ học từ quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước thông thường hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Trong đó, công ty mẹ là công ty do nhà nước sở hữu 100% vốn hoặc công ty mẹ giữ quyền chi phối với tỉ lệ tối thiểu được luật quy định. Nhà nước giao cho cơ quan có trách nhiệm thực hiện hoạt động kinh doanh vốn nhà nước tiến hành thành lập công ty mẹ, xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty mẹ, cử người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty mẹ. Công ty mẹ thành lập và giữ quyền chi phối các công ty con. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước thường hoạt động ở những lĩnh vực kinh tế quan trọng của quốc gia. Cơ chế quản lí hoạt động của tập đoàn chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật riêng.

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty tư nhân hình thành theo con đường tự nhiên, do nhu cầu thực tiễn của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp đạt được một quy mô nhất định, nhu cầu liên kết để thực hiện hoạt động kinh doanh xuất hiện, các doanh nghiệp thực hiện việc liên kết tạo thành các tổ hợp doanh nghiệp lớn (Tập đoàn kinh tế, tổng công ty). Các công ty trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty tư nhân hoạt động độc lập, theo mô hình công ty được quy định trong hệ thống pháp luật về công ty. Công ty mẹ trong tập đoàn kinh tễ, tổng công ty tư nhân thường không có phần vốn góp của Nhà nước hoặc phần vốn góp chưa đủ ở mức độ chi phối theo luật định. Trong trường hợp, công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước thực hiện cổ phần hoá làm giảm tỉ lệ nắm giữ vốn của Nhà nước tại công ty mẹ xuống dưới mức chi phối theo quy định pháp luật, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước sẽ chuyển đổi thành tập đoàn kinh tế, tổng công ty tư nhân.

II- TẬP ĐOÀN KINH TẾ, TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC 

1- Điều kiện hình thành tập đoàn kinh tị tổng công tí nhà nước

Thứ nhất, đối với tập đoàn kinh tế nhà nước

Điều kiện về ngành nghề kinh doanh: ngành nghề kinh doanh chính của tập đoàn phải là ngành nghề đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng tới an ninh quốc phòng, ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Tùy từng giai đoạn phát triển, Thủ tướng Chính phủ sẽ xác định danh mục những ngành nghề kinh doanh cần phải thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước. Để đảm bảo hạn chế việc đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính, Chính phủ sẽ quy định tỉ lệ tối thiểu các công ty con phải hoạt động trong ngành kinh doanh chính. Đối với những công ty con do công ty mẹ sở hữu 100% vốn điều lệ bắt buộc phải phục vụ trực tiếp việc thực hiện các nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh chính của công ty mẹ.

Điều kiện về tài chính: vốn điều lệ của công ty mẹ không thấp hơn 10.000 tỉ đồng. Trường hợp công ty mẹ được tổ chức dưới hình thức CTCP, công ty TNHH hai thành viên trở lên thì phần vốn nhà nước phải chiếm tối thiểu 75% vốn điều lệ của công ty mẹ.

Điều kiện về trình độ chuyên môn: Tập đoàn kinh tế phải chuẩn bị nguồn nhân lực trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm tốt và khả năng kinh doanh phù hợp với ngành nghề chính và các ngành nghề có liên quan; có trình độ quản lí theo tiêu chuẩn quốc tế trong điều hành, phối hợp hoạt động các công ty con, công ty liên kết; có khả năng sử dụng bí quyết công nghệ, thương hiệu, thị trường để chi phối các công ty con và tiến hành liên kết với các công ty liên kết khác.

Thứ hai, đối với tổng công ty nhà nước

Điều kiện về ngành nghề kinh doanh: ngành nghề kinh doanh chính của tổng công ty thuộc những ngành nghề kinh doanh có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của ngành và vùng lãnh thổ. Thủ tướng Chính phủ sẽ xác định danh mục những ngành nghề kinh doanh cần phải thành lập tổng công ty nhà nước. Tổng công ty nhà nước phải đảm bảo các điều kiện giống như tập đoàn kinh tế nhà nước trong việc hạn chế đầu tư ngoài lĩnh vực kinh doanh chính.

Điều kiện về tài chính: vốn điều lệ của công ty mẹ không thấp hơn 1.800 tỉ đồng. Đối với công ty mẹ được tổ chức dưới hình thức CTCP, công ty TNHH hai thành viên trở lên thì phần vốn nhà nước phải chiếm ít nhất 65% vốn điều lệ của công ty mẹ.

Điều kiện về trình độ chuyên môn: Tổng công ty phải xây dựng nguồn nhân lực có đủ trình độ, kinh nghiệm và khả năng kinh doanh ngành nghề chính và các ngành nghề có liên quan; có khả năng tốt trong quản lí vốn đầu tư và quản trị điều hành, phối hợp hoạt động các công ty con, công ty liên kết; có khả năng sử dụng bí quyết công nghệ, thương hiệu, thị trường để chi phối các công ty con và tiến hành liên kết với các công ty liên kết khác.

2- Thành lập tập đoàn kinh tế, tổng công tì nhà nước

Quy trình thành lập tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước được triển khai gồm những bước sau:

Bước 1: Thủ tướng Chính phủ quyết định các công ty mẹ trong tổng công ty, nhóm công ty được phép xây dựng đề án thành lập tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước;

Bước 2: Xây dựng đề án thành lập tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

Đề án gồm: Tờ trình đề án, nội dung đề án, dự thảo điều lệ của công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty. Nội dung đề án tập trung: sự cần thiết phải thành lập, thực trạng hoạt động của đối tượng đề án, phương hướng thu xếp tài chính, nhân sự, cơ chế thông tin, V.V..

Bước 3: Thẩm định đề án thành lập tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

Đối với tập đoàn kinh tế nhà nước, việc thẩm định do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thực hiện, có xin ý kiến của chuyên gia về kinh tế để đảm bảo các yếu tố về phản biện xã hội.

Đối với tổng công ty nhà nước, việc thẩm định do Bộ quản lí ngành hoặc ƯBND tỉnh chủ trì thực hiện, không xin ý kiến chuyên gia.

Bước 4: Phê duyệt đề án thành lập tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Trên cơ sở hồ sơ thẩm định, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thành lập tập đoàn kinh tế thuộc Chính phủ, tổng công ty nhà nước thuộc Bộ quản lí ngành, UBND cấp tỉnh.

Bước 5: Triển khai thực hiện đề án thành lập tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

Đối với tập đoàn kinh tế nhà nước, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập công ty mẹ (công ty 100% vốn nhà nước), bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên công ty mẹ. Bộ trường Bộ quản lí ngành bổ nhiệm các chức danh quan trọng còn lại của công ty mẹ. Bộ trưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm chức danh Kiểm soát viên tài chính công ty mẹ. Trong trường họp, công ty mẹ không phải là DNNN, Bộ trưởng Bộ quản lí ngành (hỉ định người đại diện theo ủy quyền tại công ty mẹ; quyết định c X người tham gia ứng cử Chủ tịch và thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên công ty mẹ.

Đối với tổng công ty nhà nước, Bộ trưởng Bộ quản lí ngành, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập công ty mẹ; bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc, Kiểm soát viên công ty mẹ; chỉ định người đại diện theo ủy quyền tại công ty mẹ; quyết định cử người tham gia ứng cử Chủ tịch và thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên công ty mẹ không phải là DNNN.

3- Quản lí điều hành trong tập đoàn kỉnh tế, tồng công tí nhà nước

Mô hình tập đoàn kinh tê, tống công ty nhà nước bao gôm công ty mẹ, công ty con và các công ty liên kết. Trong đó: công ty con do công ty mẹ nắm 100% vốn điều lệ hoặc nắm tỉ lệ vốn góp, cổ phần chi phối; công ty liên kết do công ty mẹ sở hữu tỉ lệ cổ phần, vốn góp dưới mức chi phối hoặc công ty không có vốn góp của công ty mẹ và công ty con, tự nguyện tham gia liên kết dưới hình thức hợp đồng liên kết và có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường, các dịch vụ khác với công ty mẹ. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước có không quá ba cấp doanh nghiệp bao gồm: công ty mẹ (doanh nghiệp cấp I) là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và giữ quyền chi phối; công ty con của doanh nghiệp cấp I (doanh nghiệp cấp II) là doanh nghiệp do công ty mẹ nắm quyền chi phối; công ty con của doanh nghiệp cấp II (doanh nghiệp cấp III) là doanh nghiệp do doanh nghiệp cap I nắm quyền chi phối.

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước không có bộ máy quản trị, hoạt động quản lí và điều hành tập đoàn do công ty mẹ thực hiện, về nguyên tắc, chủ sở hữu cấp vốn cho tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty đại diện cho các công ty thành viên tiếp nhận nguồn vốn đầu tư và cấp vốn lại cho các công ty con trong tập đoàn, tổng công ty. Công ty mẹ trong tập đoàn kinh tể, tổng công ty nhà nước chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu nhà nước để thực hiện các mục tiêu kinh doanh ngành nghề chính và mục tiêu kinh doanh khác do chủ sở hữu quy định. Công ty mẹ đại diện cho tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước thực hiện các hoạt động chung của tập đoàn, tổng công ty trong quan hệ với bên thứ ba ở trong và ngoài nước hoặc các hoạt động khác theo thỏa thuận với doanh nghiệp thành viên và quy định của pháp luật có liên quan.

Công ty mẹ thực hiện việc quản lí danh mục đầu tư, theo dõi, giám sát danh mục đầu tư của công ty mẹ tại công ty con; theo dõi, giám sát ngành nghề kinh doanh của công ty con. Công ty mẹ phải thực hiện các nghĩa vụ báo cáo và chịu sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với hoạt động kinh doanh của toàn bộ tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

4- Quản lí giám sát hoạt động của tập đoàn kinh tê, tông công ty nhà nước

Hoạt động quản lí và giám sát của Nhà nước đối với tập đoàn kinh tế, tổng công ty thực hiện thông qua nhưng phương pháp sau: (i) Phương pháp trực tiếp: hoạt động kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước được phân công tại tập đoàn, thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá hệ quả hoạt động của tập đoàn, tổng công ty, công tác kế toán, kiểm toán tại tập đoàn, tổng công ty; (ii) Phương pháp gián tiếp: báo cáo thường xuyên, đột xuất của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị của tập đoàn, tổng công ty; (iii) Phương pháp minh bạch hoá thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Hoạt động quản lí và giám sát tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước được giao cho Bộ quản lí ngành, ƯBND cấp tỉnh, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện. Định kì hàng năm, các cơ quan này phải thực hiện việc báo cáo kết quả giám sát, đánh giá trước Thủ tướng Chính phủ.

5- Chấm dứt hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước

Nhà nước ra quyết định thành lập tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước để thực hiện những mục tiêu cụ thể. Trong trường hợp mục tiêu đó không đạt được, Nhà nước có quyết định để chấm dứt việc triển khai mô hình tập đoàn từ đó tái cấu trúc lại công ty thành viên. Nhà nước quản lí hoạt động của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước thông qua công ty mẹ. Vì vậy, sự tồn tại của mô hình tập đoàn kinh tế, tổng công ty phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty mẹ. Nếu công ty mẹ không thể tồn tại trên thị trường thì đồng nghĩa với việc chấm dứt hoạt động của tập đoàn kinh tế, tổng cồng ti. Theo quy định tại Nghị định số 69/2014/NĐ-CP có 04 (bốn) trường hợp phải chấm dứt hoạt động của tập đoàn kinh tế, tồng công ty nhà nước:

Thứ nhất, công ty mẹ bị phá sản, giải thể.

Thứ hai, tập đoàn kinh tế, tổng công ty không đáp ứng được các điều kiện luật định.

thứ ba, công ty mẹ bị sáp nhập, hợp nhất với doanh nghiệp khác mà nhà nước không nắm cổ phần, phần vốn góp chi phối.

Thứ tư, trường hợp khác theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

III- TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN 

về nguyên tắc tự do kinh doanh, nhà đầu tư được tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, địa điểm kinh doanh, phương thức kinh doanh; chủ động mở rộng quy mô kinh doanh; tự do lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn hợp lí. Vì vậy, công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty tư nhân có quyền tự do thực hiện hoạt động kinh doanh theo chiến lược của công ty, công ty mẹ được thành lập và tham gia góp vốn chi phối công ty con. Pháp luật doanh nghiệp không quy định bắt buộc các công ty con trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty tư nhân phải đăng kí kinh doanh ngành nghề kinh doanh chính hoặc ngành nghề kinh doanh có liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính của công ty mẹ.

1- Thành lập tập đoàn kỉnh tể, tổng công ty tư nhân

Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, tổng công ty tư nhân không phải tiến hành thủ tục đăng kí kinh doanh như một loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ Nghị định số 139/2007/NĐ-CP đến Nghị định số 102/2010/NĐ-CP đều tạo điều kiện cho công ty mẹ sử dụng cụm từ “tập đoàn” trong thành tố cấu thành tên riêng của công ty mẹ.

Ví dụ: công ty mẹ của tập đoàn Hoà Phát có tên là “CTCP tập đoàn Hoà phát” và tên giao dịch là Tập đoàn Hoà Phát; công ty mẹ của Tập đoàn vàng bạc đá quý Doji là “CTCP tập đoàn vàng bạc đá quý Doji” và tên giao dịch là Tập đoàn Doji.

2- Quản lí điều hành tập đoàn kỉnh tế, tằng công ty tư nhân

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty tư nhân hoạt động theo mô hình công ty mẹ, công ty con. Pháp luật về doanh nghiệp không quy định về mô hình quản trị tập đoàn, tổng công ty, mà trên cơ sở được tôn trọng quyền tự do xây dựng cơ cấu tổ chức tập đoàn kinh tế, tổng công ty của nhà đầu tư. Tùy thuộc vào nhu cầu quản lí, tập đoàn kinh tế, tổng công ty tư nhân tự xây dựng mô hình quản trị cho phù hợp. Công ty mẹ trong tập đoàn thành lập thêm một số cơ quan để thực hiện việc điều hành, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty con. Tập đoàn kinh tế, tồng công ty tư nhân có thể thành lập văn phòng tập đoàn. Văn phòng tập đoàn là cơ quan độc lập không thuộc cơ cấu của công ty mẹ, thực hiện chức năng chủ yếu điều hoà các hoạt động kinh doanh giữa công ty mẹ và công ty con; kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của công ty con và lập báo cáo trình công ty mẹ. Mô hình văn phòng tập đoàn nhằm giảm thiểu trách nhiệm quản lí cho công ty mẹ, tách bạch chức năng quản lí và chức năng điều hành của công ty mẹ đối với công ty con. Văn phòng tập đoàn có trụ sở, có người quản lí, có người lao động nhưng không tham gia vào các quan hệ pháp luật trên thực tế.

Luật sư Nguyễn Thị Hoài Thương, tổng hợp (từ Giáo trình Luật Thương mại 1 - Đại học Luật Hà Nội và một số nguồn khác).

0 bình luận, đánh giá về Một số vấn đề pháp lý về Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.19646 sec| 1130.266 kb