Vấn đề đầu tư nước ngoài tại Thái Lan

19/09/2022
Đinh Thị Thương
Đinh Thị Thương
Đất nước có nhiều tiềm lực để đầu tư về kinh doanh, du lịch cùng nhiều lĩnh vực khác. Cùng tìm hiểu khái quát vấn đề đầu tư nước ngoài tại Thái Lan trong bài viết này.

Đầu tư nước ngoài đã trở nên phổ biến ở moi quốc gia trên thế giới đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập như hiện nay. Từ các nước phát triển cho đến các nước đang phát triển thì quan tâm đến đầu tư cũng là điều tất yếu để phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Và bên cạnh hiểu rõ và nắm được quy định về đầu tư của nước mình thì nhà đầu tư cũng cần quan tâm đến luật đầu tư của quốc gia mình đầu tư. Một trong những thị trường đầu tư được quan tâm là Thái Lan. Đất nước có nhiều tiềm lực để đầu tư về kinh doanh, du lịch cùng nhiều lĩnh vực khác. Cùng tìm hiểu khái quát vấn đề đầu tư nước ngoài tại Thái Lan trong bài viết này.

Vấn đề đầu tư nước ngoài tại Thái Lan
 

Các quyền và các hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Thái Lan

Các quyền của người nước ngoài ở Thái Lan có xuất phát điểm từ luật trong nước của quốc gia này. Và các quyền cũng như các hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Thái Lan cũng dựa trên đặc điểm này. Mặc dù luật quốc tế và các điều ước song phương áp đặt cho Thái Lan một số nghĩa vụ đối với người nước ngoài thường trú ở đây. Nhìn chung, người nước ngoài có những quyền cơ bản giống như người Thái Lan, trừ trường hợp một quyền nào đó rõ ràng là chỉ dành riêng cho người Thái Lan hoặc không dành cho người nước ngoài hoặc hạn chế dành cho người nước ngoài.

-           Người nước ngoài đầu tư ở Thái Lan bị hạn chế về tỉ lệ sở hữu nước ngoài trong các lĩnh vực kinh doanh như: Ngân hàng thương mại, đánh bắt thuỷ sản, hàng không, vận tải thương mại, xuất khẩu hàng hoá, khai thác mỏ V.V.. Sự hạn chế này được quy định ở nhiều văn bản pháp luật.

-           Về việc làm: Luật việc làm nước ngoài năm 1972 liệt kê các việc làm chỉ dành riêng cho người Thailand, bao gồm các nghề dịch vụ như kế toán, kiến trúc, xây dựng công trình, sản xuất hàng thủ công truyền thống của Thailand. Luật cũng quy định rằng tất cả những người nước ngoài làm việc ở Thailand, với những ngoại lê có giới hạn, phải có giấy phép làm việc do Bộ lao động và phúc lợi xã hội cấp.

-           Về sở hữu đất đai: Thông thường, người nước ngoài và doanh nghiệp nước ngoài không được phép sở hữu đất đai ở Thái Lan. Theo Bộ luật đất đai sửa đổi, nhà đầu tư nước ngoài nếu đầu tư tối thiểu một khoản tiền tương đương 1 triệu USD sẽ được phép mua 1.600 m2 đất ở với sự đồng ý của Bộ nội vụ. Các công ti kinh doanh dầu mỏ được phép sở hữu đất đai phục vụ cho các hoạt động của mình.

-           Về trưng thu và bồi thường: Tài sản tư nhân có thể bị trưng thu vì mục đích công cộng phù hợp với pháp luật Thái Lan và được bồi thường theo thủ tục chặt chẽ. Trên thực tế, điều này hiếm khi xảy ra.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý sở hữu trí tuệ

Các điều kiện thực thi và khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Thái Lan

Trong bản nhận xét tháng 12/1999 về tình hình Thái Lan, cơ quan kiểm tra chính sách thương mại của WTO ghi nhận rằng Thailand đã thực hiện các hiệp định của WTO, bao gồm Hiệp định TRIMs.

Hội đồng đầu tư (Bol) được thành lập theo quy định của Luật khuyến khích đầu tư năm 1977, là cơ quan có thẩm quyền về đầu tư ở cấp trung ương của Thailand. Hội đồng đầu tư liệt kê 5 lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp và nông sản; bảo vệ và/hoặc khôi phục môi trường; liên quan trực tiếp đến phát triển công nghệ và nguồn nhân lực; vận tải cơ bản, cơ sở hạ tầng và dịch vụ; các ngành công nghiệp mũi nhọn), bao trùm hàng trăm loại hoạt động kinh doanh. Nhiều lĩnh vực không được khuyến khích đầu tư vì hội đồng đầu tư cho rằng không cần khuyến khích đầu tư, như sản xuất cá ngừ đóng hộp xuất khẩu. Thông thường, các khuyến khích hào phóng nhất được dành cho các loại hoạt động kinh doanh kéo theo chuyển giao công nghệ mới vào Thái Lan và đầu tư vào những tỉnh kém phát triển nhất.

Giấy phép kinh doanh nước ngoài mới được áp dụng đầu tư nước ngoài tại Thái Lan

-           Các doanh nghiệp nước ngoài được phép nộp đơn xin giấy phép kinh doanh nước ngoài nếu muốn thực hiện một hoạt động ghi nhận trong danh sách 2, theo đó phải có phê chuẩn của bộ trưởng và nội các.

-           Các doanh nghiệp nước ngoài được phép thực hiện các hoạt động kinh doanh thuộc danh sách 3, theo đó phải có giấy phép của Director General với sự phê chuẩn của Committee.

-           Giấy phép kinh doanh nước ngoài cũng được cấp cho các vãn phòng đại diện được thành lập theo quy định của Bộ thương mại, các loại hình doanh nghiệp khác như các công ty dịch vụ dầu lửa, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao.

-           Bộ thương mại quy định các điều kiện trong giấy phép kinh doanh nước ngoài. Trong số nhiều điều kiện, có các điều kiện sau: Doanh nghiệp phải đầu tư vào Thái Lan 3.000.000 baht trong năm đầu tiên. Trong trường hợp doanh nghiệp xin giấy phép liên quan đến danh sách 2 và danh sách 3, số vốn tối thiểu, theo quy định cùa các văn bàn cấp bộ là 3 triệu baht. Hoạt động kinh doanh bán lẻ và bán buôn được quy định trong danh sách 3 đòi hỏi số vốn lớn. Người nước ngoài chỉ được phép kinh doanh theo danh sách 2 khi có tối thiểu 40% vốn thuộc sở hữu Thailand. Các điều kiện khác chưa được công bố.

-           Một công ty có giấy phép kinh doanh nước ngoài được phép bán cho người nước ngoài, nếu người nước ngoài này có thể tiếp tục sử dụng giấy phép kinh doanh nước ngoài của công ti. Nói chung, việc chuyển giao là được phép nhưng phải rất thận trọng trong việc kiểm tra các chi tiết của giấy phép, để xem liệu có áp dụng các hạn chế kinh doanh hay không.

Tìm hiểu thêm: Dịch vụ pháp lý thuế - kế toán

Các trường hợp ngoại lệ (không áp dụng Luật kinh doanh nước ngoài (1999)

-           Theo Nghị định Hoàng gia năm 1973, một doanh nghiệp “nước ngoài” nếu được hội đồng đầu tư trao các ưu đãi khuyến khích thì sẽ được phép tham gia các hoạt động kinh doanh thuộc danh sách 2.

-           Thêm vào đó, Luật kinh doanh nước ngoài (1999) không áp dụng đối với người nước ngoài tham gia các hoạt động kinh doanh theo giấy phép của Chính phủ Thailand với thời hạn xác định, hoặc theo thỏa thuận giữa Chính phủ Thailand với chính phủ nước ngoài.

Theo kết quả của Vòng đàm phán Uruguay (1994), trong thời hạn 10 năm kể từ ngày gia nhập WTO, ngày 01/01/1995, Thailand có nghĩa vụ tự do hoá thương mại trong lĩnh vực dịch vụ theo hướng, dành cho tất cả các nhà đầu tư nước ngoài sự đối xử bình đẳng trên cơ sở nguyên tắc tối huệ quốc (MFN). Nghĩa là đến năm 2005, không chỉ các nhà đầu tư Hoa Kì mà tất cả các nhà đầu tư nước ngoài khác sẽ được tiếp cận lĩnh vực thương mại dịch vụ.

-           Hội đồng đầu tư được phép quy định ngoại lệ cho các hoạt động kinh doanh thuộc danh sách 2 và danh sách 3.

-           Áp dụng thủ tục nhanh trong việc cấp giấy phép cho người nước ngoài nếu người nước ngoài này được hội đồng đầu tư trao ưu đãi khuyến khích.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý thương mại

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

0 bình luận, đánh giá về Vấn đề đầu tư nước ngoài tại Thái Lan

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.04647 sec| 924.773 kb