Khái quát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân

22/02/2023
Luật sư Nguyễn Thị Yến
Luật sư Nguyễn Thị Yến
Nhiệm vụ của một cơ quan nhà nước là những công việc cụ thể mà cơ quan phải thực hiện, được quy định trong Hiến pháp, luật và các văn bản pháp luật có liên quan. Cơ sở pháp lý cho việc quy định nhiệm vụ của một cơ quan nhà nước đó là chức năng của cơ quan đó. về nguyên tắc, nếu chức năng không thay đổi thì nhiệm vụ cũng không thay đổi nhưng có thể được sửa đổi, bổ sung cho phù họp. Điều này được thể hiện trong việc sửa đổi Hiến pháp lần này đối với cơ quan viện kiểm sát nhân dân.
-

Nội dung bài viết

1- Khái quát về sự hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân

Là một hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân cùng với Tòa án nhân dân được hình thành gắn liền với nhiệm vụ cách mạng của Nhà nước trong mỗi giai đoạn, góp phần đấu tranh chống mọi hành vi phạm tội nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc, chế độ xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 1946 chưa quy định thành lập cơ quan kiểm sát là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước mà thuộc hệ thống cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của cách mạng, Nhà nước đã kịp thời ban hành những văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố.

Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Ngày 03/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành sắc lệnh số 33-A quy định rõ: “Mỗi khi bắt người phải thông báo ngay cho ông Biện biết”. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về chức danh biện lí trong cơ quan công tố (còn gọi là thẩm phán buộc tội).

Ngày 24/01/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ra sắc lệnh số 13/SL về tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán. Điều 15 Sắc lệnh quy định: Toà án đệ nhị cấp gồm có: một chánh án, một biện lí, một dự thẩm... Biện lí ngồi ghế công tố viên đọc cáo trạng, sắc lệnh quy định có 7 hạng thẩm phán buộc tội tương ứng với 7 hạng thẩm phán xử án. Tiếp theo, trong Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ấn định thẩm quyền các toà án và phân công giữa các nhân viên trong toà án, trong đó dành Mục c quy định nhiệm vụ của biện lí như quyền khởi tố trạng (Điều 23), quyền kháng cáo (Điều 24), quyền đảm nhận công việc quản trị toà án, điều khiển và kiểm sát công việc của tất cả các nhân viên trong toà từ các vị thẩm phán xét xử (Điều 31).

Năm 1950, Đảng và Nhà nước tiến hành cuộc cải cách tư pháp, thành lập Tòa án nhân dân các cấp. Tổ chức và hoạt động của viện công tố có sự thay đổi cơ bản. Điều 15 sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng quy định: “Công tố viên có quyền kháng cảo về việc hộ cũng như về việc hình Biện lí chỉ chuyển hồ sơ sang phòng dự thẩm điều tra thêm về vụ phạm pháp nếu xét cần. Ngày 07/6/1950, Thủ tướng Chính phủ ra Thông tư số 21/TTg và Thông tư liên bộ số 18/BKT-TT ngày 08/6/1950 của Bộ Kinh tế và Bộ Tư pháp quy định quyền quản lí, chỉ đạo, điều hành của Ưỷ ban kháng chiến hành chính đối với viện công tố địa phương: “Uỷ ban các cấp điều khiến viện công tố trong địa hạt mình, Uỷ ban khảng chỉến hành chỉnh có thế ra mệnh lệnh cho viện công tố. Đại diện viện công tố phải tuân theo mệnh lệnh của Uỷ ban”.

Cùng với việc hoàn thiện bộ máy nhà nước nói chung, viện cồng tố từng bước được kiện toàn và phát triển. Năm 1959, thực hiện theo tinh thần các văn bản: Nghị quyết ngày 29/9/1958 của Quốc hội khóa I, Nghị định số 256/TTg ngày 01/7/1959 và Nghị định số 321/TTg ngày 02/7/1959 của Chính phủ, các viện công tố được tổ chức thành hệ thống gồm: Viện công tố trung ương, viện công tố địa phương (tỉnh, huyện, quân sự) trong đó, viện công tố gồm có: một chánh án, một biện lí, một dự thẩm...

Biện lí ngồi ghế công tố viên đọc cáo trạng, sắc lệnh quy định có 7 hạng thẩm phán buộc tội tương ứng với 7 hạng thẩm phán xử án. Tiếp theo, trong Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ấn định thẩm quyền các toà án và phân công giữa các nhân viên trong toà án, trong đó dành Mục c quy định nhiệm vụ của biện lí như quyền khởi tố trạng (Điều 23), quyền kháng cáo (Điều 24), quyền đảm nhận công việc quản trị toà án, điều khiển và kiểm sát công việc của tất cả các nhân viên trong toà từ các vị thẩm phán xét xử (Điều 31).

Kể từ đó đến nay, Viện kiểm sát nhân dân trở thành một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước Cộng ho à XHCN Việt Nam và được quy định trong Chương X Hiến pháp năm 1980, 1992. Đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Nhà nước trong giai đoạn mới, Quốc hội đã tiến hành sửa đổi bản Hiến pháp năm 1992. Sau một thời gian lấy ý kiến của nhân dân, bản Hiến pháp mới đã được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 và Chủ tịch nước công bố ngày 08/12/2013, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014.

Hiến pháp mới dành Chương VIII quy định về Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. So với các bản hiến pháp trước đó, những quy định của Chương VIII Hiến pháp năm 2013 có nhiều thay đổi, vừa đảm bảo tính kế thừa, vừa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển bộ máy nhà nước.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hành chính của Công ty Luật TNHH Everest

2- Chức năng của viện kiểm sát nhân dân

Kế thừa nguyên tắc cơ bản về tổ chức quyền lực nhà nước trong Hiến pháp năm 1992 nhưng được thể hiện theo tinh thần tăng cường yếu tố kiểm soát quyền lực nhà nước, Hiến pháp mới đã hoàn thiện nguyên tắc: “Quyền ỉực nhà nước ỉà thong nhất, có sự phân công, phổỉ hợp, kiếm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền ỉập pháp, hành pháp, tư pháp” (khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013). Cụ thể hóa nguyên tắc này, nhất là phải đảm bảo sự phân công và kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực trong bộ máy nhà nước, những quy trung ương thuộc Chính phủ có trách nhiệm, quyền hạn ngang như một bộ. Tiếp đó, ngày 31/12/1959, Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp năm 1959. Nếu như do hoàn cảnh lịch sử, Hiến pháp năm 1946 chưa quy định về cơ quan công tố thì Hiến pháp năm 1959 dành Chương VIII (từ Điều 105 đến 108) quy định về viện kiểm sát nhân dân - một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước. Ngày 26/7/1960, Lệnh của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà số 20/LCT công bố Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân và ngày 18/4/1962, Chủ tịch nước ban hành Lệnh số 12/LCT về tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

[a] Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố

Chức năng thực hành quyền công tố được Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định, là sự kế thừa sắc lệnh số 33-A ngày 03/9/1945, các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 cũng như thực tiễn hơn 40 năm thành lập Viện kiểm sát nhân dân. Thực tiễn đó khẳng định học thuyết của Lênin về nhà nước và pháp luật trong việc tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được trình bày trong tác phẩm nổi tiếng “Bàn về song trùng trực thuộc và pháp chế” là hoàn toàn phù hợp với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Qua đó bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ.

Về khái niệm thực hành quyền công tố, khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: “Thực hành quyền cồng tố là hoạt động của viện kiếm sát nhân dân trong tổ tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”.

Đây là chức năng đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân được Hiến pháp trao cho mà các cơ quan khác không thể thay thế nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, đúng định về bộ máy nhà nước đã có sự xác định rõ ràng: Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, Toà án thực hiện quyền tư pháp. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng việc xác định toà án thực hiện quyền tư pháp không có nghĩa là phủ định việc thực hiện quyền tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân và các cơ quan bổ trợ tư pháp. Chức năng của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân về cơ bản là sự kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992, sửa đối, bổ sung năm 2001: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” (khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013).

[b] Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp

Theo Hiến pháp năm 2013, chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân là sự kế thừa Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001. Tuy nhiên, so với các bản hiến pháp trước thì đó lại là sự thay đổi theo hướng thu hẹp phạm vi chức năng. Neu như theo quy định của Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, phạm vi chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân rất rộng, liên quan đến việc chấp hành pháp luật của các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân. Hậu quả là việc chồng chéo, trùng lặp chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan nhà nước (Viện kiểm sát nhân dân, thanh tra nhà nước). Điều này dẫn đến gây phiền hà không nhỏ đến hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là các tổ chức kinh tế. Hoàn thiện bộ máy nhà nước là yêu cầu đặt ra khi sửa đổi Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001. Hiến pháp sửa đổi năm 2001 đã xóa bỏ chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân dân. Thực tiễn 13 năm (từ năm 2001 đến năm 2014) thực hiện quy định của Hiến pháp về chức năng của viện kiểm sát cho thấy việc sửa đổi này là có cơ sở khoa học và thực tiễn. Với tinh thần đó, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục xác định Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan có chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp.

Theo quy định của khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì các Viện kiểm sát nhân dân:

(i) Kiểm sát tính họp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự.

(ii) Trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

(iii) Việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

(iv) Các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.

Mục đích của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân là đảm bảo việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, việc giải quyết các vụ án, việc thi hành án... đúng quy định của pháp luật. Bản án, quyết định của toà án có hiệu lực phải được thi hành nghiêm chỉnh. Mọi hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lí kịp thời, nghiêm minh.

Theo pháp luật hiện hành thì kiểm tra và giám sát việc tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất là nhiệm vụ của cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội. Cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện chức năng giám sát. Cơ quan thanh tra nhà nước, thanh tra ngành thì thanh tra. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên mặt trận thì giám sát, phản biện xã hội... Tuy nhiên, để phân biệt chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân với hoạt động giám sát, kiểm tra của các cơ quan, tố chức nói trên có thể căn cứ vào những tiêu chí sau:

(v) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng của Viện kiểm sát nhân dân. Khi thực hiện chức năng này, Viện kiểm sát nhân dân chỉ chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước, độc lập (trong khuôn khổ pháp luật) khi thực hiện chức năng đó.

(vi) Viện kiểm sát nhân dân chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp, trong khi đó, phạm vi đối tượng kiểm tra và giám sát của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội rộng hơn. Ví dụ, cơ quan quyền lực nhà nước có chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội (kể cả đối với cơ quan kiểm sát).

(vii) Khi thực hiện chức năng kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân chủ yếu chỉ xem xét khỉ có dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật, đã xác định nguyên nhân và hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân không có thẩm quyền trực tiếp xử lí về hành chính mà chỉ dừng lại ở quyền yêu cầu, kháng nghị, kiến nghị để các cơ quan quản lí xử lí về hành chính theo thẩm quyền. Khi phát hiện có yếu tố cấu thành tội phạm thì có quyền khởi tố, truy tố và luận tội trước toà án.

(viii) Là cơ quan nhà nước duy nhất có quyền truy tố kẻ phạm pháp ra trước toà án và giữ ghế uỷ viên công tố nhà nước tại phiên toà.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực dân sự của Công ty Luật TNHH Everest

3- Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân

Nhiệm vụ của một cơ quan nhà nước là những công việc cụ thể mà cơ quan phải thực hiện, được quy định trong Hiến pháp, luật và các văn bản pháp luật có liên quan. Cơ sở pháp lí cho việc quy định nhiệm vụ của một cơ quan nhà nước đó là chức năng của cơ quan đó. về nguyên tắc, nếu chức năng không thay đổi thì nhiệm vụ cũng không thay đổi nhưng có thể được sửa đổi, bổ sung cho phù họp. Điều này được thể hiện trong việc sửa đổi Hiến pháp lần này đối với cơ quan Viện kiểm sát nhân dân.

Hiến pháp năm 2013 đã xác định: “Viện kiểm sát nhân dần cỏ nhiệm vụ bảo vệ pháp ỉuật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phẩn bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (khoản 3 Điều 107).

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Căn cứ vào nội dung những văn bản nói trên, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân được thể hiện trên các lĩnh vực sau:

[a] Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khỏi tố

Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khỏi tố (Điều 12, Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014)

(i) Khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;
  • Huỷ bỏ quyết định tạm giữ, các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền;
  • Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác khi cần thiết...

(ii) Khi kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Tiếp nhận đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm và chuyển giao cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết;
  • Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Các cơ quan này có nhiệm vụ thông báo đầy đủ, kịp thời cho viện kiểm sát;
  • Trực tiếp kiểm sát, kiểm sát việc điều tra của các cơ quan điều tra nói trên;
  • Khi phát hiện vi phạm pháp luật thì yêu cầu cơ quan điều tra nói trên thực hiện các hoạt động như tiếp nhận, kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, cung cấp tài liệu về vi phạm pháp luật, khắc phục vi phạm pháp luật và xử lí người vi phạm;
  • Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm;
  • Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự...

Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực này. Điều này rất cần thiết vì nếu việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được thực hiện đúng pháp luật thì sẽ không có những rắc rối sau này.

[b] Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự

Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự (Điều 14, Điều 15 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014)

Theo pháp luật hiện hành, điều tra các vụ án hình sự là nhiệm vụ của các cơ quan điều tra (cơ quan công an, quân đội), cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (cơ quan kiểm lâm, hải quan...). Các cơ quan này là đối tượng chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân.

(i) Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Yêu cầu các cơ quan nói trên khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can;
  • Huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án; phê chuẩn hoặc huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can trái pháp luật;
  • Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong trường hợp luật định...

(ii) Khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ án;
  • Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng;
  • Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra...

[c] Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố

Theo Điều 16, Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014:

(i) Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật; yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can;
  • Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong một số trường hợp;
  • Quyết định khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong một số trường hợp...

(ii) Khi kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu xử lí người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật;
  • Kiến nghị việc áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật...

[d] Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (Điều 18, Điều 19 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014)

Xét xử là chức năng riêng có, duy nhất của Tòa án nhân dân. Nhân danh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, căn cứ vào pháp luật toà án đưa ra phán quyết cuối cùng nhằm kết thúc một vụ án. Toà án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Pháp luật nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm. Tuy nhiên, để cho việc xét xử của toà án đuợc nghiêm minh, kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đòi hỏi phải có cơ chế giám sát hữu hiệu. Nếu không sẽ dẫn đến tình trạng lạm quyền, vi phạm quyền con người, quyền công dân. Toà án hoạt động dưới sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước thông qua trách nhiệm báo cáo công tác của Chánh án tại kì họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân.

(i) Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự của Toà án, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Công bố cáo trạng hoặc quyết định khởi tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên toà;
  • Xét hỏi, luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên toà;
  • Kháng nghị trong trường hợp phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;
  • Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

(ii) Khi kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Khi kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:
  • Kiểm sát bản án, quyết định của toà án;
  • Kháng nghị bản án, quyết định của toà án...

Trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tham gia tố tụng và thực hành quyền công tố trước toà án cùng cấp. Tại phiên toà, kiểm sát viên đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến việc giải quyết vụ án, thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại  phiên toà sơ thẩm. Đối với phiên toà phúc thẩm, đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án. Đại diện viện kiểm sát có quyền tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm.

Với những phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm, đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, nếu phát hiện việc xét xử của toà án chưa đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; kiến nghị toà án cùng cấp và cấp dưới khắc phục vi phạm trong quá trình xét xử. Nếu có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự.

Như vậy, mục đích của thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội. Mục đích của kiểm sát xét xử các vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời.

[đ] Công tác điều tra của cơ quan điều tra viện kiểm sát nhân dân

Theo pháp luật hiện hành, khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân có quyền điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật. Trong cơ cấu tố chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương có cơ quan điều tra (gồm thủ trưởng, các phó thủ trưởng, các điều tra viên).

Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra của viện kiểm sát: Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật mà người pham tội là cán bộ, công chức thuộc cơ quan  điều tra, toà án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan điều tra của viện kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát quân sự trung ương thực hành qưyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc khởi tố, điều tra của cơ quan điều tra của viện kiểm sát theo quy định tại các điều 12, 13, 14, 15 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[e] Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc tạm giữ thuộc nhiệm vụ của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Người bị tạm giam, tạm giữ, thi hành án hình sự là những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội cần thiết phải ngăn chặn, cách li khỏi cuộc sống bình thường. Tuy nhiên, để cho việc giam, giữ, thi hành án hình sự đúng pháp luật, cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội thì cần có cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ kiếm sát mọi hoạt động của cơ quan có nhiệm vụ đó. Trong bộ máy nhà nước hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân được giao nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc tạm giữ, tạm giam. Khi thực hiện nhiệm vụ này, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam;
  • Kiểm sát hồ sơ tạm giữ, tạm giam;
  • Quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, tạm giam không có căn cứ và trái pháp luật;
  • Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tạm giữ, tạm giam...

Thi hành án hình sự là nhiệm vụ của toà án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, người có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thi hành án hình sự. Đó chính là đối tượng chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực này.

Khi kiểm sát thi hành án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Yêu cầu toà án ra quyết định thi hành án hình sự, tự kiểm tra việc thi hành án hình sự và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân;
  • Trực tiếp kiểm sát việc thi hành án hình sự, hồ sơ thi hành án hình sự;
  • Quyết định trả tự do ngay cho người đang chấp hành hình phạt tù không có căn cứ và trái pháp luật...

[g] Kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thưong mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính

Việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định pháp luật thuộc phạm vi chức năng của Tòa án nhân dân. Do vậy, đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực này là hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, theo quy định pháp luật hiện hành, để giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại, lao động, ngoài Tòa án nhân dân còn có tổ chức được pháp luật giao cho thẩm quyền đó là tổ chức trọng tài thương mại (tổ chức phi Chính phủ). Hoạt động của tổ chức này không nằm trong đối tượng chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện nhiệm vụ của mình nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ án đúng pháp luật, kịp thời, minh bạch.

(i) Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ nêu trên, pháp luật quy định Viện kiểm sát nhân dân có những quyền hạn sau:

  • Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu;
  • Kiểm sát việc thụ lí, giải quyết vụ án, vụ việc;
  • Thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp pháp luật quy định...

(ii) Khi kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Kiểm sát việc cấp, chuyển giao, giải thích, đính chính bản án, quyết định của toà án;
  • Trực tiếp kiểm sát việc thi hành án của cơ quan thi hành án, chấp hành viên, tổ chức, cá nhân có liên quan;
  • Kiểm sát hồ sơ về thi hành án...

[h] Giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp

(i) Những khiếu nại trong lĩnh vực tư pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của viện kiểm sát nhân dân, gồm:

  • Khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của người có thẩm quyền của viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng của viện kiểm sát;
  • Khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của thủ trưởng cơ quan điều tra;
  • Khiếu nại trong hoạt động tạm giữ, tạm giam...

(ii) Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền giải quyết các tố cáo sau:

  • Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền của viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp;
  • Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động của người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra;
  • Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam;
  • Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người được giao quản lý, giáo dục phạm nhân;
  • Tố cáo khác theo quy định của pháp luật.

(iii) Khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:
  • Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo;
  • Ban hành kết luận kiểm sát, thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

[i] Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tưong trự tư pháp

Trong xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa thì hoạt động tương trợ tư pháp là cần thiết. Năm 2007, Quốc hội đã ban hành Luật trương trợ tư pháp, quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của cơ các quan nhà nước Việt Nam trong tương trợ tư pháp. Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp là nội dung mới trong Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014, thể hiện chính sách đối ngoại trong lĩnh vực tư pháp của Việt Nam.

(i) Khi thực hành quyền công tố trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự, viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Quyết định việc chuyển yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài cho cơ quan điều tra có thẩm quyền của Việt Nam đe khởi tố, điều tra;
  • Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài triệu tập người làm chứng, người giám định; thu thập, cung cấp chứng cứ, tài liệu; truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội...

(ii) Khi kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp, viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

  • Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, người tiến hành và người tham gia hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự, dân sự, dẫn độ, chuyển giao người chấp hành hình phạt tù;
  • Tham gia phiên họp của toà án về việc dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù và phát biểu quan điểm của viện kiểm sát.

[k] Thống kê tội phạm và các công tác khác

(i) Thống kê tội phạm là công việc cần thiết để qua đó Nhà nước nắm bắt, đánh giá cụ thể, chính xác tình hình tội phạm xảy ra trong cả nước, ở mỗi địa phương, ở từng lĩnh vực, qua đó có biện pháp khắc phục, hoàn thiện pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm chủ trì thống kê tội phạm, phối hợp với các cơ quan hữu quan trong việc thống kê hình sự.

(ii) Nghiên cứu tội phạm học, khoa học kiểm sát góp phần thực hiện chức năng, nhiệm vụ và đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật.

" Trình dự án luật, dự án pháp lệnh; chủ trì, phối họp trong xây dựng pháp luật, ban hành văn bản pháp luật.

" Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ cho kiểm sát viên, điều tra viên...

“ Thực hiện họp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học; đàm phán, kí kết, gia nhập các hiệp định tương trợ tư pháp theo quy định.

(iii) Thông qua việc thực hiện chức năng, viện kiểm sát có trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật góp phần phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật.

(Tham khảo: Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam - Đại Học Luật Hà Nội và một số nguồn khác).

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

4- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Khái quát chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Khái quát chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

0 bình luận, đánh giá về Khái quát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.18935 sec| 1134.734 kb