Bộ máy nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

14/03/2023
Luật sư Nguyễn Thị Yến
Luật sư Nguyễn Thị Yến
Trong nhà nước tồn tại một trật tự được duy trì bởi việc sử dụng vũ lực và nhà nước độc quyền sử dụng vũ lực đó thông qua việc ban hành và thực thi pháp luật. Sở dĩ nhà nước là một xã hội được tổ chức theo cách thức chính trị là bởi vì đó là một cộng đồng được tập hợp bởi một trật tự có tính bắt buộc chung, trật tự đó chính là pháp luật

I- Khái niệm và cấu trúc tổ chức của bộ máy, Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

1- Khái niệm bộ máy nhà nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Để hiểu khái niệm “bộ máy nhà nước” nói chung và “bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” nói riêng, trước tiên cần hiểu khái niệm “Nhà nước”.

Khái niệm “Nhà nước” được nghiên cứu bởi khá nhiều ngành khoa học như khoa học luật hiến pháp, chính trị học, xã hội học, triết học. Mỗi ngành khoa học lại có cách tiếp cận khác nhau và đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm này. Dưới góc độ khoa học luật hiến pháp, có thể hiểu Nhà nước là một tập hợp mang tính chất chính trị (Political association) của người dân sinh sống trên một phạm vi lãnh thổ nhất định nhằm mục đích duy trì trật tự trong xã hội bằng các biện pháp và bộ máy cưỡng chế hợp pháp. Đây là nghĩa rộng và trừu tượng của khái niệm “Nhà nước”. Khi sinh sống trong xã hội, con người có nhiều hình thức tập hợp với nhau thành các thực thể (associations) để thực hiện một số hoạt động nào đó có mục đích nhất định mà tất cả các thành viên đều hướng tới, ví dụ nhà nước, nhà thờ, hội thánh, công ty, câu lạc bộ. Trong các hình thức này, Nhà nước là đặc biệt nhất bởi nó được hình thành để thực hiện quyền lực chính trị, tức là quyền lực cưỡng chế chung họp pháp trên phạm vi toàn lãnh thổ nhằm duy trì trật tự nhất định. Nhà nước hiện thực hoá sứ mệnh này thông qua việc độc quyền ban hành và thực thi pháp luật. Theo Hans Kelsen, một học giả pháp lí người Mỹ gốc Áo nổi tiếng giữa thế kỉ XX: “... Nhà nước là một xã hội “chính trị” hoặc xã hội được tổ chức một cách chính trị (politically organized). Theo nghĩa này, trong nhà nước tồn tại một trật tự được duy trì bởi việc sử dụng vũ lực và nhà nước độc quyền sử dụng vũ lực đó thông qua việc ban hành và thực thi pháp luật. Sở dĩ nhà nước là một xã hội được tổ chức theo cách thức chính trị là bởi vì đó là một cộng đồng được tập hợp bởi một trật tự có tính bắt buộc chung, trật tự đó chính là pháp luật”.

Ở góc độ phân tích giải phẫu, Nhà nước theo nghĩa rộng trên đây được hiểu như một sự tập hợp của ba yếu tố cơ bản: bộ máy thi hành quyền lực chính trị, lãnh thổ và dân cư. Trước tiên, nhà nước là tập họp của các thiết chế (cơ quan) nắm giữ công cụ cưỡng chế và bạo lực một cách chính đáng, đây chính là sự hiện diện của quyền lực nhà nước. Các thiết chế nhà nước này có đội ngũ nhân sự riêng và tồn tại thường trực trong khoảng thời gian không giới hạn. Thứ hai, những thiết chế nhà nước kiểm soát một phạm vi lãnh thố địa lí nhất định, thường được đề cập tới như một xã hội. Theo nghĩa này, nhà nước chăm lo các công việc đối nội trong phạm vi lãnh thổ của mình cũng như các công việc đối ngoại trong mối quan hệ với các nước khác. Thứ ba, nhà nước độc quyền ban hành các quy định mang giá trị bắt buộc, tức là pháp luật, trong phạm vi lãnh thố của mình và đối với phạm vi dân cư sinh sống trên phạm vi lãnh thổ đó.  Quan điểm của các học giả Xô-viết trước đây, mặc dù nhấn mạnh tính giai cấp của nhà nước, song cũng gián tiếp công nhận khái niệm Nhà nước bao gồm ba thành tố nêu trên.

Với khái niệm “Nhà nước” được hiểu như trên đây, thuật ngữ “bộ máy nhà nước” đề cập tới thành tố đầu tiên của Nhà nước. Nhìn ở góc độ trừu tượng thì yếu tố này chính là thứ quyền lực chính trị hiện diện trong Nhà nước; còn nhìn ở góc độ cụ thể thì đó chính là sự hiện diện của một hệ thống tổ chức của con người trực tiếp thực hiện thứ quyền lực chính trị đó trên phạm vi lãnh thổ của Nhà nước. Trong suốt chương trình của môn học Luật hiến pháp, thuật ngữ “bộ máy nhà nước” hay “bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” thường sử dụng nhiều hơn ở góc độ cụ thể. Trong ba thành tố của Nhà nước theo nghĩa rộng phân tích trên đây thì bộ máy nhà nước cũng là thành tố quan trọng và nổi bật nhất. Không có bộ máy nhà nước thì không có Nhà nước. Chính vì vậy, bộ máy nhà nước cũng thường được hiểu như nghĩa hẹp của Nhà nước và thuật ngữ “Nhà nước” cũng có thể được dùng để chỉ bộ máy nhà nước.

Như vậy, nếu quyền lực nhà nước là thứ quyền lực duy nhất có giá trị bắt buộc trên toàn bộ lãnh thổ và đối với mọi chủ thể trong phạm vi lãnh thổ đó thì bộ máy nhà nước là cấu trúc tổ chức hiện thực hoá, trực tiếp nắm giữ và thực thi thứ quyền lực đó. cấu trúc này là một hệ thống bao gồm các chủ thể độc lập tương đối với nhau bởi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, song cùng tạo thành một chỉnh thể thống nhất để thực hiện quyền lực nhà nước đáp ứng được các tiêu chuẩn của một nhà nước hiện đại như dân chủ, pháp quyền, bảo đảm nhân quyền và hiệu quả. Các chủ thể này được gọi là các cơ quan nhà nước. Có thể nói, nếu bộ máy nhà nước là yếu tố cấu thành Nhà nước thì Cơ quan nhà nước là yếu tố cấu thành bộ máy nhà nước. Các học giả Xô-viết trước đây thường định nghĩa “tổng thể các cơ quan nhà nước với những nhiệm vụ, quyền hạn riêng của nó tham gia vào quá trình thực hiện các chức năng, quyền lực nhà nước được gọi là bộ máy nhà nước. Mỗi cơ quan nhà nước đều có phạm vi quyền hạn, chức năng và nhiệm vụ riêng mà theo đó nó tham gia vào quá trình thực hiện các công việc của nhà nước”.  Mặc dù định nghĩa này phản  ánh bộ máy nhà nước từ góc độ tổ chức, song nó khá cụ thể, dễ hiểu và dễ liên hệ với từng bộ máy nhà nước cụ thể trong thực tiễn. Ví dụ: Bộ máy nhà nước thời phong kiến thường có sự hiện diện của một nhà vua, bộ máy nhà nước hiện đại thường có sự hiện diện của các cơ quan dân cử như nghị viện V.V.. Cách định nghĩa này cũng dễ phân biệt bộ máy nhà nước ở các quốc gia khác nhau, ví dụ bộ máy nhà nước Đức ở trung ương có Tổng thống, Nghị viện..., bộ máy nhà nước Vương Quốc Anh ở trung ương có Nhà vua, Nghị viện, Chính phủ... Như vậy, bộ máy nhà nước giống như một cỗ máy còn các cơ quan nhà nước là các bánh xe ráp nối với nhau tạo thành cỗ máy đó.

Với khái niệm chung về bộ máy nhà nước như trên, có thể hiểu “bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” là cấu trúc tổ chức trực tiếp nắm giữ và thực thi quyền lực nhà nước, tức là bộ máy nhà nước của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Ở góc độ luật hiến pháp, khi nói tới “Cơ quan nhà nước” là nói tới yếu tố cấu thành chính của nó như: chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức - nhân sự. Các thuật ngữ này cũng sẽ được sử dụng thường xuyên và xuyên suốt quá trình khảo cứu các cơ quan nhà nước cụ thể trong chương trình môn học Luật hiến pháp.

“Chức năng” của cơ quan nhà nước là lĩnh vực hoặc những lĩnh vực hoạt động chính của cơ quan đó, ví dụ lĩnh vực - chức năng lập pháp, lĩnh vực - chức năng hành pháp, lĩnh vực - chức năng tư pháp, lĩnh vực - chức năng kiểm soát quyền lực, lĩnh vực - chức năng công tố, lĩnh vực - chức năng quản lí hành chính nhà nước... Chức năng của mỗi cơ quan nhà nước cũng có thể được hạn định trong một phạm vi lãnh thổ mà cơ quan nhà nước đó có thẩm quyền. Nhìn tổng thể, chức năng của mỗi cơ quan nhà nước là một phần chức năng chung của bộ máy nhà nước. Chức năng của các cơ quan nhà nước thường phải riêng biệt với nhau bởi lẽ nếu có sự trùng nhau thì nghĩa là đã có tình trạng hai hay nhiều cơ quan cùng thực hiện cùng một mảng công việc của nhà nước. Có thể nói, chức  năng là lí do cho sự ra đời của cơ quan nhà nước; nó là yếu tố quan trọng nhất “định nghĩa” một cơ quan nhà nước. Hans Kelsen viết: “Bất cứ ai thực hiện trọn vẹn một chức năng nhà nước do pháp luật quy định thì đều được gọi là một cơ quan (nhà nước)”.  Theo nghĩa này, một cơ quan nhà nước có thế chỉ có một người, ví dụ Tống thống, Chủ tịch nước hoặc một tập thể, ví dụ Quốc hội, Chính phủ... miễn là các cơ quan này thực hiện chức năng riêng.

Căn cứ vào chức năng, cơ quan nhà nước được giao thẩm quyền nhất định, tức là tổng thể các nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể được quy định trong hiến pháp và các văn bản pháp luật khác. Cơ quan nhà nước sử dụng và viện dẫn các nhiệm vụ, quyền hạn này đế tiến hành các hoạt động cụ thế nhằm thực hiện chức năng của mình. Cũng có thể nói, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đem đến sự bảo đảm pháp lí cho việc thực hiện chức năng của cơ quan nhà nước đó. Chính vì vậy, phạm vi thẩm quyền của cơ quan nhà nước luôn được quy định phù hợp với chức năng của nó. Ví dụ: Quốc hội Việt Nam có chức năng lập pháp thì có quyền ban hành các đạo luật; TAND có chức năng tư pháp thì có nhiệm vụ bảo vệ công lí, có quyền xét xử và giải thích pháp luật...

Nếu “nhiệm vụ, quyền hạn” là yếu tố bảo đảm về mặt pháp lí thì “cơ cấu tổ chức - nhân sự” là yếu tố bảo đảm về mặt vật chất cho hoạt động của một cơ quan nhà nước. Mọi cơ quan nhà nước đều được tạo thành bởi con người, được sắp xếp thành các bộ phận trong cơ cấu tổ chức phù hợp với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Cơ cấu tố chức của một cơ quan nhà nước cũng phải phù họp với tính chất hoạt động, tức là đặc điếm chủ đạo xuất phát từ cách thức hình thành và nội dung nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó. Ví dụ: Quốc hội có tính chất là cơ quan đại diện của nhân dân nên có cơ cấu tổ chức theo kiểu hội đồng với các uỷ ban giúp việc; trong khi đó, các Bộ là các cơ quan hành chính nhà nước có tính chất thủ trường chế nên trong cơ cấu tổ chức xoay quanh một người có thẩm quyền và trách nhiệm cao nhất là bộ trưởng... Nhân sự trong các cơ quan nhà nước cũng là vấn đề cần bàn tới. Những người nắm giữ chức vụ, quyền hạn cụ thể trong một cơ quan nhà nước thường có hai tư cách. Thứ nhất, họ là người nhân danh quyền lực thực hiện một phần nào đó của chức năng nhà nước, ví dụ Thủ tướng Chính phủ đại diện nhà nước khi điều hành hoạt động của Chính phủ, Thẩm phán đại diện nhà nước khi xét xử... Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, họ là “người nhà nước” và có thể được hưởng các đặc quyền tương ứng với nhiệm vụ và quyền hạn mà họ phải thực hiện. Tuy nhiên, ở góc độ thứ hai, họ cũng là những người dân bình thường. Do đó, trong hoàn cảnh không thực hiện nhiệm vụ nhà nước thì họ là con người bình thường, có quyền, lợi ích và nghĩa vụ pháp lí cũng như những người bình thường khác.

2- Cấu trúc tổ chức của bộ máy nhà nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bộ máy nhà nước ở các quốc gia trên thế giới đều được cấu thành bởi các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước không tồn tại một cách hoàn toàn độc lập với nhau mà luôn có mối liên hệ, tương tác với các cơ quan khác trong một cấu trúc tổ chức nhất định để tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Trong khi bộ máy nhà nước là hiện tượng tồn tại ổn định và lâu dài của Nhà nước thì cấu trúc tố chức của bộ máy nhà nước của một quốc gia cụ thể lại có thế thay đổi theo từng thời kì tuỳ thuộc vào các điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử, văn hoá... của quốc gia đó.

Theo Hiến pháp năm 2013, cấu trúc tổ chức của bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay có thể được mô tả khái quát theo các tiêu chí sau:

(i) Thứ nhất, xét theo chức năng của các cơ quan nhà nước, cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bao gồm các hệ thống và nhóm cơ quan sau:

Nhóm các cơ quan dân cử bao gồm Quốc hội và HĐND các cấp. Hệ thống cơ quan này do người dân bầư ra ở cấp trung ương (Quốc hội) và địa phương (HĐND cấp tỉnh, huyện, xã) để thực hiện chức năng thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng nhất ở trung ương và địa phương. Với vai trò đại diện như vậy, Quốc hội và HĐND các cấp còn được gọi là các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, có địa vị hiến định và luật định cao hơn các cơ quan nhà nước khác ở cùng cấp.

  • Hệ thống cơ quan chấp hành gồm Chính phủ ở cấp trung ương và UBND ở cấp địa phương. Lí do được gọi là các cơ quan chấp hành bởi vì các cơ quan này được các cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp bầu ra với chức năng chung là chấp hành các quyết định của các cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp. Khi tố chức thực hiện quyết định của cơ quan quyền lực, Chính phủ và UBND các cấp cũng trực tiếp điều hành công việc của nhà nước tác động lên xã hội. Vì vậy, các cơ quan này cũng được gọi là các cơ quan hành chính nhà nước. Chính phủ và UBND các cấp nằm trong một cơ cấu tổ chức theo ngành dọc từ trung ương tới các đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện, xã, trong đó các cơ quan cấp trên có quyền ra lệnh cho các cơ quan cấp dưới, qua đó tạo thành một hệ thống cơ quan hành chính nhà nước thống nhất từ trung ương tới địa phương. Vì có chức năng trực tiếp tổ chức thực hiện công việc nhà nước nên hệ thống cơ quan chấp hành luôn là hệ thống cơ quan đồ sộ nhất của bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng như bất kì bộ máy nhà nước nào. Đối với người dân thì đây cũng là nơi họ cảm nhận một cách trực tiếp nhất về hoạt động của Nhà nước. Vì vậy, hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước cũng luôn là hình ảnh trực tiếp nhất về Nhà nước đối với người dân.
  • Hệ thống cơ quan TAND gồm TANDTC ở trung ương, các TANDCC, các TAND cấp tỉnh và các TAND cấp huyện. Các toà án có chức năng xét xử các tranh chấp, áp dụng pháp luật đế xử lí các vi phạm. Nhiệm vụ cao nhất của toà án là bảo vệ công lí, bảo vệ pháp luật, chính vì vậy tòa án được hiến pháp quy định là “co' quan... thực hiện quyền tư pháp”.  Hệ thống TAND cũng được thiết lập theo chiều dọc với TANDTC là cơ quan xét xử cao nhất. Tuy nhiên, về mặt pháp lí thì TAND cấp trên không có quyền chỉ  đạo hoạt động xét xử đối với TAND cấp dưới bởi lẽ mỗi toà án đều hoạt động theo nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc. lập và chỉ tuân theo pháp luật. Lưu ý là trong tổ chức của hệ thống TAND còn có các tòa án quân sự. Các tòa án quân sự hình thành một cấu trúc riêng bao gồm Tòa án quân sự trung ương; các Tòa án quân sự cấp quân khu và tương đương; các Tòa án quân sự khu vực. Các tòa án này không được bố trí theo cấp hành chính lãnh thổ hay cấp xét xử thông thường mà theo cấu trúc tổ chức lực lượng trong quân đội.  Do khuôn khổ hạn hẹp nên  không thể hiện các tòa án quân sự ở các cấp.

  • Hệ thống VKSND bao gồm VKSNDTC, các VKSNDCC, VKSND cấp tỉnh và VKSND cấp huyện. Chức năng của VKSND là công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Công tố là hoạt động thay mặt nhà nước buộc tội hình sự đối với bị cáo trước toà án. Chính vì vậy, cơ cấu tổ chức của hệ thống VKSND hoàn toàn giống hệ thống TAND. Các VKSND tạo thành một hệ thống cơ quan đặc thù của bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, có nguồn gốc từ mô hình tổ chức bộ máy nhà nước XHCN trước đây. Cơ quan tương đồng với cơ quan này ở các quốc gia trên thế giới là Viện công tố với chức năng duy nhất là chức năng công tố. Lưu ý là trong hệ thống VKSND cũng có một cấu trúc riêng của các viện kiểm sát quân sự. Các viện kiểm sát quân sự cũng được bố trí giống với hệ thống tòa án quân sự, bao gồm Viện kiếm sát quân sự trung ương; các Viện kiếm sát quân sự cấp quân khu và tương đương; các Viện kiếm sát quân sự khu vực. 

  • Nhóm các cơ quan hiến định độc lập gồm Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước. Đây là hai cơ quan mới xuất hiện trong cơ cấu tổ chức hiến định của bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam kể từ Hiến pháp năm 2013.  Hai cơ quan này đều do Quốc hội thành lập với chức năng giám sát việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở những góc độ khác nhau, đối với Hội đồng bầu cử quốc gia là ở góc độ hình thành cơ quan đại diện còn đối với Kiểm toán nhà nước là ở góc độ chi tiêu từ ngân sách nhà nước. Với chức năng như vậy, Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước được tổ chức độc lập với nhau và giữa chúng không tồn tại mối quan hệ gắn bó chặt chẽ đế có the tạo thành một hệ thống giống như các hệ thống cơ quan đề cập trên đây.

Ngoài các hệ thống cơ quan và nhóm cơ quan đề cập trên đây, trong bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay còn có một cơ quan chỉ có một người, đó là Chủ tịch nước. Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có vị trí là người đứng đầu nhà nước, thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân, thực hiện chức năng nguyên thủ quốc gia, đại diện cho Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong các mối quan hệ đối nội và đối ngoại. Mặc dù là người đứng đầu nhà nước song nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước hiện nay chủ yếu mang tính chất lễ nghi.

(ii) Thứ hai, xét theo góc độ phạm vi lãnh thổ thuộc thẩm quyền của từng cơ quan nhà nước, các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có thể được phân thành các nhóm như sau:

  • Hệ thống các cơ quan nhà nước ở trung ương gồm Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC, Hội đồng bầu cử quốc gia và KTNN. UBTVQH là cơ quan thường vụ của Quốc hội có một số nhiệm vụ, quyền hạn riêng song nằm trong cơ cấu tố chức của Quốc hội. Các cơ quan nhà nước ở trung ương có phạm vi thẩm quyền bao trùm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, điều này có nghĩa là các quyết định, văn bản của các cơ quan này có hiệu lực thực thi trong toàn quốc. Hình dung một cách đơn giản theo thứ bậc cao thấp, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và do đó nắm giữ vị trí cao nhất. Chủ tịch nước và UBTVQH do Quốc hội bầu ra, đứng ở vị trí thứ hai và chịu sự giám sát của Quốc hội. Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC có vị trí ngang bằng nhau và đứng ở vị trí thứ ba, có nghĩa là các cơ quan này chịu sự giám sát của cả Quốc hội, Chủ tịch nước và UBTVQH.
  • Hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương tại các cấp đơn vị hành chính lãnh thổ: cấp tỉnh (gồm các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (gồm các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương), cấp xã (gồm các xã, phường, thị trấn). Ở các cấp đơn vị hành chính lãnh thổ này có sự hiện diện của hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức theo mô hình giống nhau và phản chiếu mô hình tổ chức của các cơ quan nhà nước ở trung ương. Theo đó, tại các đơn vị hành chính cấp tỉnh có HĐND, UBND, TAND và VKSND cấp tỉnh; tại đơn vị hành chính cấp huyện có tất cả các cơ quan tương tự cấp tỉnh với phạm vi thẩm quyền bao trùm địa bàn cấp huyện; còn ở cấp xã không có TAND, VKSND mà chỉ có HĐND và UBND. Trong các cơ quan nhà nước ở địa phương thì HĐND là cơ quan dân cử duy nhất và do đó là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, có địa vị pháp lí cao hơn các cơ quan nhà nước khác ở địa phương. Cơ cấu tổ chức của hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương theo kiểu “đồng phục” như trên làm cho bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam dường như được hợp thành bởi những bộ máy nhà nước thành phần tương đối độc lập với nhau ở các đơn vị hành chính lãnh thố khác nhau của đất nước. Điều này đã và đang gây ra một số bất cập liên quan tới sự nhất quán trong hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung.
  • Bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay còn có hai loại cơ quan có thẩm quyền lãnh thổ tương đối đặc biệt, đó là TANDCC và VKSNDCC. Hai loại cơ quan này mới được hình thành kể từ năm 2015, khi Luật tổ chức TAND năm 2014 và Luật tổ chức VKSND năm 2014 được ị đưa vào thực hiện. Hiện tại, 3 TANDCC có thẩm quyền xét xử trên phạm vi lãnh thổ của các khu vực phía Bắc, Trung và Nam; 3 VKSNDCC cũng có thẩm quyền công tố và kiểm sát tư pháp trên 3 phạm vi lãnh thổ tương tự. cần lưu ý là các phạm vi lãnh thổ này chỉ được hình thành để phục vụ hoạt động của TANDCC và VKSNDCC. Đây không phải là các đơn vị hành chính lãnh thổ và do đó không có các cơ quan chính quyền: HĐND và UBND.

II- Bộ máy nhà nước Việt Nam qua các giai đoạn hiến pháp:

Vì tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước luôn là vấn đề hệ trọng của các quốc gia nên bộ máy nhà nước nói chung thường có cấu trúc tổ chức ổn định. Sự ổn định của bộ máy nhà nước cũng bảo đảm sự ổn định và phát triển của đất nước nói chung, điều này thể hiện qua sự ổn định của bộ máy nhà nước ở Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Nhật Bản... Mặc dù vậy, khi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử về chính trị, kinh tế, xã hội thay đổi thì bộ máy nhà nước cũng có thể được điều chỉnh cho phù hợp.

Ở Việt Nam cho tới nay đã có 5 bản hiến pháp. Mỗi bản hiến pháp gắn với một giai đoạn phát triển của đất nước với những nét đặc thù riêng. Mỗi bản hiến pháp cũng quy định về bộ máy nhà nước trong thời kì tương ứng với đặc điểm và tính chất riêng. Các tiểu mục dưới đây trình bày một cách khái quát những đặc điểm và tính chất nổi bật nhất của bộ máy nhà nước qua 5 bản hiến pháp. 

1- Bộ máy nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 1946

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Bác Hồ đọc Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Quảng trường Ba Đình. Ngay sau đó, công tác xây dựng bộ máy nhà nước kiểu mới, dân chủ với nhân dân đã được khẩn trương tiến hành. Ngày 1 tháng 01 năm 1946, Chính phủ liên hiệp lâm thời được thành lập.  Ngày 06 tháng 01 năm 1946, Quốc hội khóa 1 được bầu thông qua tống tuyển cử toàn quốc. Ngày 02 tháng 3 năm 1946, Quốc hội khóa 1 thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Ngày 09 tháng 11 năm 1946, Quốc hội khóa 1 thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, thường được gọi là Hiến pháp năm 1946. Cùng khoảng thời gian này, Thực dân Pháp nhăm nhe quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, lực lượng cách mạng sau đó rút khỏi Hà Nội và tiến hành cuộc kháng chiến trường kì chống Thực dân Pháp trong suốt 9 năm (1946-1954). Như vậy, hoàn cảnh lịch sử trong giai đoạn này đặc trưng bởi bối cảnh chính trị - xã hội đầy khó khăn: nhà nước non trẻ mới được thành lập và ngay lập tức đứng trước nguy cơ bị đe dọa; môi trường chính trị trong nước phức tạp cùng sự xuất hiện của nhiều đảng, phái chính trị với những quan điểm khác nhau; phần lớn diện tích lãnh thổ của chúng ta vẫn nằm dưới sự chiếm đóng của thế lực ngoại xâm...

Trong bối cảnh lịch sử như vậy, bộ máy nhà nước Việt Nam trong thời kì này mang ba đặc điểm nổi bật như sau:

(i) Thứ nhất, bộ máy nhà nước Việt Nam thời kì Hiến pháp năm 1946 là bộ máy nhà nước dân chủ cộng hòa, chưa phải là bộ máy nhà nước XHCN như các bản hiến pháp sau. Điều này không những được khẳng định tại Điều thứ 1 Hiến pháp năm 1946: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà” mà còn được thể hiện qua cách thức vận hành của hệ thống chính trị. Trong Hiến  pháp năm 1946 chưa quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương hay bất kì đảng, phái chính trị nào. Trên thực tế, giai đoạn Hiến pháp năm 1946 tồn tại nhiều đảng phái chính trị tham gia công việc của nhà nước; thành phần của Quốc hội khoá I được bầu ngày 06 tháng 01 năm 1946 cũng có 57% đại diện của các đảng, phái chính trị khác nhau như Việt Minh, Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ, Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội và khá nhiều đại biểu không đảng phái (43%).  Cơ cấu, tố chức bộ máy nhà nước phản ánh khá rõ thuyết phân quyền, tương tự bộ máy nhà nước tư sản: Chủ tịch nước do Nghị viện bầu ra và đứng đàu Chính phủ song có địa vị khá độc lập với cơ quan bầu ra mình; thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm song hoạt động theo nguyên tắc độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. Các quy định của Hiến pháp năm 1946 cho thấy cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước giai đoạn này chưa mang những đặc điểm của bộ máy nhà nước XHCN.

(ii) Thứ hai, bộ máy nhà nước quy định trong Hiến pháp năm 1946 chưa được thành lập trên thực tế. Chỉ 40 ngày sau khi Hiến pháp năm 1946 được thông qua, Chính phủ liên hiệp kháng chiến đã rút lên vùng núi phía Bắc để tiến hành cuộc kháng chiến trường kì. Do hoàn cảnh lịch sử, Hiến pháp năm 1946 tuy đã được thông qua nhưng chưa được công bố, Nghị viện theo Hiến pháp năm 1946 cũng chưa được bầu và theo đó các cơ quan khác như Chủ tịch nước, Chính phủ cũng chưa được thành lập theo Hiến pháp năm 1946. Trên thực tế, hầu hết công việc nhà nước trong thời gian này được điều hành bởi các sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành với tư cách Chủ tịch Chính phủ được thành lập từ trước Hiến pháp năm 1946. Bên cạnh đó, Quốc hội khoá 1 làm nhiệm vụ của Nghị viện theo quy định của Hiến pháp năm 1946.

(iii) Thứ ba, Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946 có vị trí và quyền hạn hết sức đặc biệt trong bộ máy nhà nuớc. Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu Nhà nước, vừa là người đứng đầu Chính phủ. Thủ tướng chỉ là người đứng đầu Nội các trong Chính phủ.  Chủ tịch nước do Nghị viện bầu với tỉ lệ phiếu 2/3, nhưng trong khi Nghị viện có nhiệm kì 3 năm thì Chủ tịch nước lại có nhiệm kì 5 năm và có thể được bầu lại.  Hiến pháp năm 1946 quy định Nghị viện có thể bất tín nhiệm Nội các, Thủ tướng,  song lại không có quy định về việc bất tín nhiệm đối với Chủ tịch nước. Như vậy là vai trò kiểm soát về mặt chính trị của Nghị viện đối với Chủ tịch nước là khá hạn chế. Đặc biệt hơn nữa, Chủ tịch nước của Hiến pháp năm 1946 còn quy định Chủ tịch nước “không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc” và để xét xử tội danh này, Nghị viện .phải thành lập một toà án đặc biệt.  Với những đặc quyền trên đây, có thể nói Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thời kì Hiến pháp năm 1946 là một vị trí bất khả xâm phạm, một vị trí mà không Chủ tịch nước nào ở các bản hiến pháp sau này có được.

2- Bộ máy nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 1959

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954, lịch sử cách mạng Việt Nam bước sang trang mới. Vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) đã được khẳng định vững chắc. Tuy nhiên, sau khi Thực dân Pháp bội ước Hiệp định Geneva năm 1954, đất nước Việt Nam bị chia cắt thành hai miền: Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), miền Nam vẫn thuộc chế độ thực dân và sau đó hình thành chế độ xã hội khác với miền Bắc. Với bối cảnh lịch sử như vậy, bộ máy nhà nước Việt Nam trong giai đoạn này mang ba đặc điểm nổi bật sau:

(i) Thứ nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đã bắt đầu được ghi nhận trong hiến pháp. Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1959 có viết: 

“Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng Lao động Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành được thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc và thực hiện thống nhất nước nhà.”

Mặc dù mới được ghi nhận như một thực tế lịch sử mà chưa được quy định trong một điều riêng như trong các bản hiến pháp sau này, có thể nói, vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam, đã bắt đầu có cơ sở hiến định.

(ii) Thứ hai, bộ máy nhà nước Việt Nam đã bắt đầu được xây dựng theo mô hình XHCN. Điều 2 Hiến pháp năm 1959 tiếp tục quy định Nước Việt Nam theo chính thể dân chủ cộng hòa giống như Hiến pháp năm 1946. Tuy nhiên, bộ máy nhà nước đã bắt đầu mang những dấu hiệu của bộ máy nhà nước XHCN. Như đã đề cập, vai trò của Đảng Lao động Việt Nam đã được ghi nhận khắng định. Bên cạnh đó, Quốc hội đã được quy định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có quyền bầu, giám sát hoạt động và bãi miễn các chức vụ cao nhất trong bộ máy nhà nước.  Các chức vụ do Quốc hội bầu, trong đó có cả Chủ tịch nước, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và có cùng nhiệm kì với Quốc hội.  Điều này cho thấy cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước đã bắt đầu áp dụng nguyên tắc quyền lực thống nhất theo mô hình XHCN. Đặc biệt, trong bộ máy nhà nước đã xuất hiện hệ thống VKSND, cơ quan đặc thù của bộ máy nhà nước XHCN, với chức năng công tố và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật.

(iii) Thứ ba, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa không bắt buộc là đại biểu Quốc hội. Theo quy định tại Điều 62 Hiến pháp năm 1959, điều kiện để một người có thể được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước chỉ là tư cách công dân Việt Nam và có độ tuổi từ 35 trở lên. Đây là bản hiến pháp duy nhất của Việt Nam không quy định bắt buộc Chủ tịch nước là đại biểu Quốc hội. Dường như chức vụ Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1959 được kì vọng là một vị trí trung lập, không mang màu sắc đảng phái để có thể tập họp, huy động được đông đảo nhất lực lượng của hai miền cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

3- Bộ máy nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 1980

Sau Chiến thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước ta bước sang một trang sử mới. Lúc này, hai miền Nam, Bắc đã hoàn toàn thống nhất, điều đó tạo ra cơ sở quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Có thể nói, vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được khẳng định vững chắc và tinh thần lạc quan, phấn khởi về con đường đi lên CNXH của đất nước đang dâng cao hơn bao giờ hết. về quan hệ quốc tế, trong giai đoạn này mối quan hệ hữu nghị, anh-em giữa Việt Nam và các nước trong Khối XHCN trở nên gắn bó chặt chẽ hơn bao giờ hết. Xu hướng áp dụng mô hình phát triển chung cả về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội trở nên phổ biến giữa các nước XHCN mà đứng đầư là Liên bang Xô-viết trước đây. Tuy nhiên, cơ sở vật chất, hạ tầng của đất nước lại bị tàn phá nặng nề sau gần 30 năm chiến tranh. Điều này đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho công cuộc xây dựng đất nước, đi lên CNXH.

Trong hoàn cảnh lịch sử như vậy, Hiến pháp năm 1980 đã thiết lập một bộ máy nhà nước với đặc điểm bao trùm là tính chất XHCN hết sức đậm nét, có thể nói là đậm nét nhất trong số các bản hiến pháp của Việt Nam. Điều này được thể hiện qua ba đặc điểm cụ thể sau:

(i) Thứ nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được khắng định và quy định một cách mạnh mẽ. Trong Hiến pháp năm 1980, vai trò lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đề cập một cách nổi bật trong Lời nói đầu như nhân tố và động lực chủ chốt làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bên cạnh đó, lần đầu tiên vai trò lãnh đạo của Đảng đã được quy định trong một điều riêng của hiến pháp, Điều 4, với nội dung: 

“Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp.”

(ii) Thứ hai, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã được thiết kế hoàn toàn theo mô hình bộ máy nhà nước XHCN. Ở vị trí cao nhất của bộ máy nhà nước là Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân cả nước bầu ra. Các cơ quan và chức vụ khác ở trung ương như Hội đồng nhà nước, Hội đồng bộ trưởng, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC đều là đại biểu Quốc hội, do Quốc hội bầu ra, có cùng nhiệm kì với Quốc hội và chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội.  Với mô hình này, toàn bộ bộ máy nhà nước Việt Nam ở trung ương đều xuất phát từ Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân. Khi Quốc hội hết nhiệm kì thì các cơ quan khác ở trung ương cũng hết nhiệm kì; khi Quốc hội bắt đầu nhiệm kì mới thì Quốc hội cũng bầu ra các cơ quan nhà nước khác ở trung ương với nhiệm kì mới. Các bộ máy nhà nước không theo mô hình XHCN không có đặc điểm này

(iii) Thứ ba, nguyên tắc tập thể lãnh đạo được áp dụng phổ biến trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Theo Hiến pháp năm 1980, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Hội đồng nhà nước, một cơ quan tập thể do Quốc hội bầu ra, đồng thời là cơ quan thường vụ của Quốc hội.  Chính phủ được gọi là Hội đồng bộ trưởng, với chế độ làm việc tập thể đóng vai trò chủ yếu;  vai trò cá nhân của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng ít nổi bật so với Thủ tướng trong các hiến pháp sau này.

4- Bộ máy nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

Giai đoạn sau khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành, đất nước ta rơi vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng: sản xuất đình trệ, sản phẩm khan hiếm, lạm phát và thất nghiệp tăng cao. Đứng trước tinh hình đó, năm 1986 Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định áp dụng đường lối đổi mới kinh tế với chính sách chủ đạo là cho phép phát triển nền kinh tế thị trường và khuyến khích sự phát triền của các doanh nghiệp tư nhân thay vì cấm đoán như trong giai đoạn trước đó. Làn sóng đổi mới ngay lập tức tạo nên kết quả tích cực về kinh tế và xã hội. Hiến pháp năm 1992 được ban hành đế thể chế hoá đường lối đổi mới đó. Năm 2001, Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung để tiếp tục thể chế hoá đường lối đổi mới sau 15 năm thực hiện thành công.

Xét trong cả giai đoạn, đặc điểm chủ đạo của bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là tính chất XHCN có điều chỉnh đế phù hợp với tinh hình, về cơ bản, bộ máy nhà nước Việt Nam vẫn theo mô hình XHCN với những đặc điểm của mô hình này như thể hiện trong Hiến pháp năm 1980. Tuy nhiên, để bảo đảm thực hiện thành công đường lối đổi mới, bộ máy nhà nước đã được điều chỉnh một bước ở Hiến pháp năm 1992 và tiếp tục được điều chỉnh năm 2001. Điều này thể hiện ở bốn đặc điểm lớn như sau:

(i) Thứ nhất, vai trò lãnh đạo của cá nhân được tăng tường trong tô chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là các cơ quan nhà nước ở trung ương. Chế độ nguyên thủ tập thể của Hiến pháp năm 1980 đã được chuyển thành nguyên thủ cá nhân do Chủ tịch nước thực hiện. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng với những nhiệm vụ, quyền hạn riêng biệt cả về tổ chức và hoạt động nhằm bảo đảm vai trò lãnh đạo, điều hành hiệu quả đối với hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương tới địa phương.  Việc đề cao vai trò của cá nhân, đặc biệt là vai trò của Thủ tướng Chính phủ, được coi là giải pháp giúp tăng cường trách nhiệm và tính linh hoạt của các cơ quan nhà nước mà trước tiên là Chính phủ trong việc điều hành công việc của nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế.

(ii) Thứ hai, quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản được điều chỉnh theo hướng hợp lí. Điều 4 Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, song hoạt động của các tổ chức Đảng phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Trước đó, Hiến pháp năm 1980 mới chỉ quy định hoạt động của các tổ chức Đảng trong khuôn khổ Hiến pháp. Pháp luật do Nhà nước đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Xét cho cùng thì các tổ chức Đảng đều là các chủ thể tham gia quan hệ xã hội giống như các chủ thể khác. Việc đặt hoạt động của các tổ chức Đảng trong khuôn khổ pháp luật, trong khi vẫn quy định Đảng là lực lượng lãnh đạo, cho thấy về mặt tư tưởng Hiến pháp năm 1992 đã bước đầu thiết lập mối quan hệ Đảng Cộng sản - Nhà nước theo định hướng pháp quyền.

(iii) Thứ ba, nguyên tắc pháp quyền chính thức được công nhận, cùng với nó là sự công nhận bước đầu đối với quan điểm về phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Pháp quyền và phân quyền là hai nguyên tắc lớn, hai thành tựu vĩ đại của loài người trong lĩnh vực tố chức thực hiện quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, trong bộ máy nhà nước theo mô hình XHCN truyền thống như quy định tại Hiến pháp năm 1980 hoàn toàn vắng bóng hai nguyên tắc này. Việc Hiến pháp năm 1992 sửa đối, bổ sung ghi nhận hai nguyên tắc pháp quyền và phân quyền tại Điều 2 cho thấy bước tiến lớn trong nhận thức về sự phát triển của bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong sự phát triển chung của bộ máy nhà nước hiện đại.

(iv) Thứ tư, vai trò của VKSND trong lĩnh vực bảo đảm tuân thủ pháp luật ngày càng thu hẹp. Như thể hiện trong giai đoạn Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980, sự xuất hiện của hệ thống VKSND với chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật và chức năng công tố là một đặc thù của bộ máy nhà nước XHCN. Khi đó, chức năng kiểm sát của VKSND bao trùm lĩnh vực tư pháp, hành chính và các hoạt động xã hội nói chưng. Trong các quy định của Hiến pháp năm 1992, phạm vi chức năng kiểm sát của VKSND vẫn được kế thừa trọn vẹn từ Hiến pháp năm 1980.  Tuy nhiên, khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 thì chức năng kiểm sát của VKSND chỉ còn trong lĩnh vực tư pháp;  tương ứng với điều đó là thẩm quyền xét xử của toà án được mở rộng sang lĩnh vực tranh chấp kinh tế và hành chính.  Sự điều chỉnh này nhằm làm cho các cơ quan tư pháp của bộ máy nhà nước XHCN của Việt Nam thực hiện có hiệu quả hơn đường lối đổi mới. Trong nền kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền, bảo đảm tuân thủ pháp luật phải là nhiệm vụ chính của Toà án. Chỉ có Toà án với các thủ tục tố tụng công bằng mới là nơi phân xử các tranh chấp, làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật và áp dụng chế tài xử lí một cách phù hợp nhất với tinh thần thượng tôn pháp luật, bảo đảm môi trường pháp lí bình đẳng cho mọi chủ thể trong nền kinh tế thị trường.

5- Bộ máy nhà nước Việt Nam giai đoạn Hiến pháp năm 2013

Sau 20 năm thi hành Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và 25 năm thực hiện chính sách đổi mới, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, về mặt chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước chưa có nhiều đổi mới tương xứng với tầm, mức đổi mới về kinh tế. Bộ máy hành chính nhà nước còn cồng kềnh, quan liêu; phân công, phối họp trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp như quy định tại Điều 2 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 còn chưa rõ ràng; chế độ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước là một bất cập lớn trong thực tiễn. Bên cạnh đó, tình hình quan hệ đối ngoại cũng có nhiều điểm mới. Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào đời sống quốc tế và khu vực và do đó ngày càng phải quan tâm nhiều hơn tới các vấn đề mà quốc tế và khu vực quan tâm, ví dụ như dân chủ, bảo đảm, bảo vệ quyền con người... Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI diễn ra tại Hà Nội tháng 01 năm 2011 đã quyết định tổng kết thi hành để tiến tới sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) nhằm phù hợp với tình hình mới. Ngày 28 tháng 11 năm 2013, Hiến pháp mới đã được Quốc hội khóa 13 thông qua với nhiều quy định mới về bộ máy nhà nước. Trong năm 2014, 2015, các luật về tố chức các cơ quan nhà nước lần lượt được ban hành nhằm cự thể hóa các quy định của hiến pháp về lĩnh vực này.

Có thể nói, khác với các giai đoạn trước, hoàn cảnh lịch sử ra đời Hiến pháp năm 2013 không có sự thay đối căn bản. Do vậy, bộ máy nhà nước vẫn kế thừa những đặc điểm và nội dung cơ bản của bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Định hướng chủ đạo của các quy định mới về bộ máy nhà nước là khắc phục những bất cập của bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) để hoàn thiện bộ máy nhà nước phù hợp với yêu cầu của tình hình mới. Trên tinh thần đó, bộ máy nhà nước giai đoạn Hiến pháp năm 2013 có đặc điểm bao trùm là bộ máy nhà nước XHCN được kế thừa từ giai đoạn trước song có những điều chỉnh, bổ sung nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Điều này thể hiện ở bốn đặc điểm lớn sau:

(i) Thứ nhất, quan điểm phân quyền tiếp tục được khẳng định thêm một bước trong tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nếu Điều 2 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 mới chỉ quy định “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”, thì trong Hiến pháp năm 2013 đã có quy định cụ thể định danh Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và Tòa án thực hiện quyền tư pháp.  Quy định cụ thể như vậy là rất có ý nghĩa bởi nó góp phần xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan đối với việc thực hiện từng quyền một cách hiệu quả.

(ii) Thứ hai, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước lần đầu tiên được đề cập một cách cụ thể trong Hiến pháp và có thể được coi như bước phát triển mới trong việc áp dụng nguyên tắc pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định phương thức tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam phải dựa trên cơ sở phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trước đó, Điều 2 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 mới đề cập tới yếu tố “phân công, phối hợp”. Sự bổ sung yếu tố “kiểm soát quyền lực” là một bước tiến mới trong nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền bởi trong Nhà nước pháp quyền không thể không có các cơ chế bảo đảm quyền lực không bị tha hóa. Nhận thức này không chỉ dừng lại ở khoản 3 Điều 2 mà còn được thể chế hóa thành các quy định cụ thể và thiết thực. Chương X Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định về hai cơ quan hiến định độc lập trong bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam với chức năng kiếm soát quyền lực nhà nước, đó là Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước.

(iii) Thứ ba, nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người chính thức được hiến định là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Hiến pháp năm 1992 là hiến pháp đầu tiên của Việt Nam quy định một cách rõ ràng về việc tôn trọng quyền con người. Tuy nhiên, khi đó “tôn trọng quyền con người” mới được xem như một nguyên tắc hiến định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.  Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng và nâng nguyên tắc này thành một trong những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân;...”.

(iv) Thứ tư, qua các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật có liên quan, vai trò của TAND đã được đề cao hơn một bước theo hướng xứng đáng với vị trí của nó trong Nhà nước pháp quyền. Ở bất kì quốc gia nào trong thời bình, đặc biệt là trong các nhà nước pháp quyền, Toà án luôn đóng vai trò hết sức quan trọng. Đó là nơi người dân tìm đến mỗi khi có tranh chấp. Toà án sẽ giúp người dân giải quyết các tranh chấp một cách công bằng, thoả đáng, trong hoà bình và qua đó bảo đảm trật tự, kỉ cương, yên bình trong xã hội. Khi người dân cảm thấy công lí ở gần thì xã hội tất yếu sẽ được yên bình. Trong suốt những năm đổi , vai trò của hệ thống TAND chưa được chú trọng đúng mức. Đối mới hệ thống toà án vẫn chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra.

Nhằm khắc phục những nhược điểm đó, hệ thống toà án theo Hiến pháp năm 2013 đã được đổi mới đáng kể. Lần đầu tiên toà án được giao thực hiện quyền tư pháp với nhiệm vụ bảo vệ công lí, bên cạnh các nhiệm vụ truyền thống là bảo vệ quyền con người, quyền công dân...  Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 cũng bổ sung nguyên tắc “bảo đảm tranh tụng trong xét xử” đối với hoạt động của toà án và hệ thống tư pháp.  Đây là nguyên tắc tiến bộ có vai trò nâng cao vị trí của toà án trong các quy trình tố tụng, bảo đảm công bằng trong hoạt động xét xử. Trong cơ cấu hệ thống toà án 4 cấp, vai trò của TANDTC cũng được nâng lên với nhiệm vụ phát triến án lệ. Các toà án giờ đây cũng có thấm quyền giải thích pháp luật, một trong những “vũ khí” quan trọng bảo đảm công lí trong hoạt động xét xử của toà án.

Luật sư Nguyễn Thị Yến - Phó Giam Đốc của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp (từ Giao trình Luật Hiến pháp Việt Nam - Đại Học Luật Hà Nội (2021) và một số nguồn khác) ​

0 bình luận, đánh giá về Bộ máy nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.20110 sec| 1138.203 kb